Tuesday, January 8, 2013

Toàn Cảnh Bức Tranh “ĐỜI ĐỜI NHỚ ƠN TÀU ĐỎ“ Của Đảng CSVN


         Trong lịch sử thế giới và Việt sử, chưa có một quốc gia nào và thời đại nào của nước ta mà chính quyền như CSVN (trừ Lê Duẩn vì theo lệnh Nga) lại ra lệnh cho quân đội và toàn dân cả nước không được “chống lại Tàu đỏ là kẻ tử thù“ đã và đang từng giờ, từng ngày dùng đủ mọi cách để cưởng đoạt lãnh thổ và đồng hóa dân tộc ta thành nô lệ.
 

            
    Một chính khách phương Tây đã nói "Nếu nước Nga không có kho bom nguyên tử để hù dọa thiên hạ, thì cũng chẳng qua là một Congo tại Âu Châu mà thôi ".Lời khinh miệt trên đối với Nga không phải vô cớ mà có. Hãy nhìn Nga Sô từ sau năm 1989 thì hiểu rõ, khi nước này đã gặp phải nhiều tai ương thảm khốc, hầu hết gần như bất lực không giải quyết được. Ðầu tiên là vụ chiếc tàu ngầm nguyên tử Komsomolets bị phát hỏa chìm dưới đáy biển Na Uy vào tháng 10/1994 làm thất thoát hàng ngàn tỷ chất phóng xạ Becqueret trong vùng. Nội vụ chưa giải quyết xong thì ngày 12-8-2000, chiếc tàu ngầm nguyên tử được coi là tối tân nhất của Nga tên Kurst trong lúc tập trận, đột nhiên bị chìm trong lòng biển Barent làm chết hoàn toàn 118 thủy thủ đoàn. Sau đó ngày 11-5-2001 bốn vệ tinh quân sự lại bị mất tích vì căn cứ nguyên tử Serpukhov phát hỏa.

            Nhưng đau đớn nhất là lúc nước Mỹ công bố khắp thế giới về sự thành công của chương trình "Lá Chắn chống Phi Ðạn" thì cũng là lúc tại phi trường Mạc Tư Khoa, một chiếc máy bay chở hành khách do Nga chế tạo loại IL-76 rớt làm chết hết hành khách lẫn phi hành đoàn. Qua các sự kiện xảy ra trước mắt, nhiều bình luận gia trên thế giới đã không ngần ngại tuyên bố là thời mạt vận của Nga đã tới, cho dù Putin qua thời gian làm tổng thống hoặc mới đây là thủ tướng rồi tổng thống, đã liên kết với Trung Cộng,Bắc Hàn, Ba Tư, Venezuela, Syria.. tìm đủ trăm phuơng ngàn kế du thuyết và lũng đoạn thế giới qua một cuộc chiến tranh năng lượng với Hoa Kỳ, Liên Âu và Nhật, chẳng những tại Trung Á, Caspien, Trung Ðông mà ngay cả Phi Châu, Biển Ðông và Châu Mỹ La Tinh. Ở đâu Nga và Tàu cũng đem sức mạnh quân sự và kho vũ khí nguyên tử ra để khiêu khích và hù dọa nhân loại, làm như đế quốc Liên Xô và Trung Hoa đã sống lại.

            Trung Cộng ngày nay còn hung dữ, ngang ngược, tham tàn và hiếu sát gấp trăm ngàn lần Hitler, Stalin..Đức quốc xã, phát xít Ý và quân phiệt Nhật ngày trước.Cứ nhìn cảnh TC dùng xe tăng, đạn pháo đàn áp  khủng bố đồng bào mình tại quảng trường Thiên An Môn (Bắc Kinh) năm 1989 hay cảnh giết chóc dã man người Tây Tạng, Hồi Giáo Tân Cương..thì biết rõ. Như Liên Xô thời nào, Trung Cộng giờ cũng đem bom nguyên tử, máy bay, tàu chiến, súng đạn đủ loại và mớ đô la vét được từ túi bọn lái buôn Mỹ, Âu Châu, Nhật.. ra để bóp chẹt, khuynh đảo và hù dọa khắp thế giới, đặc biệt là những nước nhỏ quanh vùng. Tất cả chỉ với mục đích “ cướp mọi thứ của thiên hạ “ bằng hành động và thái độ ngang ngược coi thường công pháp quốc tế kể cả cái gọi là Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, mà Tàu đỏ và Nga là hai trong năm nước đang làm trùm sinh sát nhân loại.

            Hành động bá đạo trên, chẳng những không làm bất cứ ai khiếp sợ (trừ CSVN) như tin mới nhất đã xãy ra vào ngay 5-1-2013, phản lực cơ chiến đấu của Nhật đã chận máy bay Y-12 của TC gần không phận thuộc khu vực quần đảo Senkaku, khiến chiếc máy bay trên phải quay đầu bay về Tàu.Những hành động ngỗ ngáo bá đạo này, càng lúc càng khiến cho cả nhân loại khinh ghét, phỉ nhổ nên khiến gần hết các nước lớn nhỏ hùa theo Mỹ, Ấn Độ..chực cơ hội phanh thây Tàu đỏ như ngày trước đã từng làm cỏ đế quốc Liên Xô.

            Để cướp biển Đông hay nói đúng hơn là cướp hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và phần lớn lãnh hải cũng như thềm lục địa thuộc chủ quyền lâu đời của VN, Trung Cộng đã ngụy tạo ra bản đồ hình lưỡi bò,xua hàng chục ngàn tàu thuyền đánh cá lớn nhỏ vào vơ vét hết nguồn hải sản tại các khu vực đặc quyền kinh tế của ta, suốt từ Móng Cáy vào tận Cà Mâu. Đồng thời lập thành phố Tam Sa thuộc tỉnh Hải Nam để làm căn cứ hải quân, đem HKMH và hạm đội xuống biển Đông, hầu khống chế  hải lộ huyết mạch thông thương từ Ấn Độ Dương lên Bắc Á.

            Năm 2012 nhằm kiểm soát Biển Đông cũng như phô trương lực lượng hải quân, để hù CSVN, Kampuchia và Lào..TC lại tung ra tờ thông hành có in bản đồ chín đoạn, trong đó có ghi nhiều lãnh thổ thuộc chủ quyền của Ấn Độ, VN, Phi Luật Tân, Đài Loan và Nhật Bổn. Nói chung sự thua thiệt to lớn hiện nay tại Biển Đông vẫn là VN vì TC tuy có to mồm và trình diễn trong cuộc tranh chấp với Nhật về quần đảo Senkaku trong biển Nhật Bản, cũng như với Phi Luật Tân tại Bãi Đá Ngầm nhưng đố TC dám gây chiến với hai nước này, vì họ đã có hiệp ước hậu thuẩn của Mỹ.Trái lại tại Đông Hải, TC tha hồ tác quái vì CSVN sẽ chẳng bao giờ dám công khai đối mặt với kẻ thù, cho dù chúng có tàn sát hết ngư phủ và chiếm hết lãnh hải VN, theo tuyên bố có hiệu lực từ ngày 1-1-2013,

            Ngày nay CSVN đã không  cần che dấu những hành động ‘bán nước và đầu hàng giặc Tàu‘ mà đảng luôn gọi là ‘bí mật quốc gia‘, trong đó có phần xác nhận Hoàng Sa, Trường Sa kể cả biển Đông đã mất nên không cần nhắc tới nữa, mặc dù Nguyễn Tấn Dũng có nói “Hoàng Sa, Trường Sa là của VN“ hay đảng cho biết ‘bắt đầu ngày 1-1-2013, VN áp dụng luật biển mới (?)..’
       
            Tất cả những cái gọi là ‘bí mật quốc gia‘, đã được Nguyễn Đăng Thanh (đại tá Công An) và Nguyễn Chí Vịnh (thượng tướng, thứ trưởng Bộ Quốc phòng) công khai bạch hóa trong buổi nói chuyện cũng như cuộc phỏng vấn tại VN vào những ngày áp Tết và đầu năm 2013. Theo đó cả hai đều thay đảng “tố cáo tội ác Mỹ đã gây nên cuộc diễn biến hòa bình tại VN và làm cho biển Đông dậy sóng khi, Hoa Kỳ quyết định trở lại Châu Á và Thái Bình Dương“. Do đó cả hai cùng tuyên bố ‘CSVN đời đời nhớ ơn TC‘. Đặc biệt Nguyễn Chí Vịnh còn công khai cấm cả nước ‘biểu tình chống kẻ tử thù của dân tộc Việt ‘. Đồng thời ra lệnh cho toàn dân phải doàn kết với đảng và nhà nước ‘cùng nhớ ơn TC’ để tạo cảnh ổn đinh bên cạnh thiên triều, bảo toàn lãnh thổ theo châm ngôn ‘bốn tốt, mười sáu chữ vàng‘ của Hồ Cẩm Đào ban tặng.
                   
            Hậu quả của những bí mật quốc gia vừa được đảng công bố trên,  đã đưa đất nước và dân tộc Việt đến tận bờ vực thẳm của sự hủy diệt và làm nô lệ giặc Tàu. Đảng coi như đã xóa bỏ hết những trang Việt Sử hào hùng và bi tráng của dòng giống Lạc Hồng suốt mấy ngàn năm qua, trong cuộc tử chiến với Hán tộc để sinh tồn và giữ nước.

            Năm 111 trước Tây Lịch, người Hán xâm lăng và cưởng chiếm non sông Hồng-Lạc, lúc đó có quốc hiệu là Nam Việt, bao gồm lãnh thổ của Âu Lạc và Giao Chỉ. Dân tộc Việt bắt đầu sống trong một thời bị Tàu đô hộ cả ngàn năm, còn đất đai của tiên tổ thì bị giặc cướp phanh thây thành chín mảnh. Ðó là Nam Hải va Hợp Phố (Quảng Ðông), Thượng Ngô và Uất Lâm (Quảng Tây), Châu Nhai và Nam Nhĩ (Hải Nam), Giao Chỉ (Bắc Việt), Cửu Chân (Thanh Hóa), Nhật Nam (Nghệ An và Hà Tĩnh).

‘Quê hương nay đã mỏi mòn,
Ngàn năm nô lệ, vẫn còn còn đây .. ’ ’ ’
(Ca dao)

            Từ đó dân tộc Việt sống trong một thời kỳ lầm than, nhục hận và đen tối dưới cùm gông nô lệ, dưới đồng hóa xích xiềng cùng với sự áp bức dã man tàn độc của giặc Tàu phương Bắc. Nhưng người Việt vốn là một dân tộc anh hùng tuyệt luân, phi thường dũng liệt, can đãm bất khuất. Vì vậy suốt trong thời gian bị nô lệ, đã không ngừng quật khởi chiến đấu, quyết tâm đánh đuổi kẻ thù ra khỏi bờ cõi cẩm tú ngàn đời của dòng giống Tiên Rồng, được tạo dựng từ thời các Tổ Hùng dựng nước Văn Lang, cách đây gần 5000 năm lịch sử.

            Trong tình cảnh nước mất nhà tan, thương đau và tủi nhục, cuộc đấu tranh nhằm giải phóng dân tộc thoái khỏi ách nô lệ của giặc Tàu, vẫn liên tục sôi sục trong tâm khảm mọi người. Năm 40 sau Tây lịch, hai phụ nữ đầu tiên của nước Việt là Trưng Trắc và Trưng Nhị, đã thắp sáng lịch sữ bằng ngọn lửa yêu nước, đánh đuổi tên thái thú tàn ác Tô Ðịnh chạy về Hán, dành lại được một phần non sông cẩm tú của dân tộc, dù chỉ giữ được một thời gian ngắn. Cuộc khởi nghĩa trên đã làm cho đồng bào vô cùng phấn khởi và càng thêm ngưỡng kính Hai Bà tuy là phận nữ nhi nhưng đã dám đứng lên chống lại giặc thù của dân tộc, trả thù nhà nợ nước. Thật là một tấm gương để cho con cháu ngàn đời soi chung noi dấu. Ngày nay :

‘Cột đồng Mã Viện tìm đấu thấy
Chỉ thấy Tây Hồ, bóng nước gương ‘
(Thái Xuyên)

            Nên đọc lịch sử VN qua hằng ngàn năm trước tới thời cận sử không xa, con cháu ngày nay chỉ thấy đẳm đầy trên những trang sách cũ-mới, toàn là máu lệ và nước mắt anh hùng của tiền nhân, qua công cuộc bảo vệ và dành lại lãnh thổ cũng như nền tự chủ độc lập của Ðại Việt. Còn gì đau đớn và tủi nhục cho bằng thân phận của người dân mất nước, kể từ năm 43 sau TL , Mã Viện lập lại chế độ cai trị vô cùng hà khắc, mục đích duy nhất cũng chỉ là muốn biến Giao Châu thành một quận huyện của Tàu, đồng thời Hán hóa người Việt và bành trướng lãnh thổ xuống phương Nam.

            Tuy cách nay gần hai ngàn năm nhưng chính sách xâm lăng đồng hóa các dân tộc yếu kém láng giềng của Hán Tộc vẫn không hề thay đổi, dù cho trong cuộc phong trần vinh nhục, Tàu cũng đã nhiều lần bị các nước khác đô hộ, hạ nhục, thảm thê không có bút mực nào diễn tả cho hết. Mã Viện dựng cột đồng với lời hăm dọa ‘ đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt ‘ nhưng cột đồng thì mất tích, còn nổi căm hận nhớ đến âm mưu diệt chũng của người Tàu đối với dân Việt thì muôn đời mãn kiếp không bao giờ quên được. Ðó là lý do mà suốt ngàn năm bị áp bức bóc lột đến cùng tận, dân Việt luôn luôn vùng dậy chống quân Tàu. Năm 248 Bà Triệu khởi binh chống quân Ngô ở Cửu Chân (Thanh Hóa). Tiếp theo có Lý Nam Ðế, Triệu Quang Phục, Mai Hắc Ðế, Phùng Hưng, Khúc Thừa Dụ.. và cuối cùng là Ngô Vương Quyền vào năm 939 sau TL, chém đầu Thái Tử Hoàng Tháo trên sông Bạch Ðằng, đuổi đánh quân Nam Hán chạy về Tàu, kết thúc 1000 Bắc thuộc, dành lại độc lập tự chủ cho dân tộc Việt.

‘Đồng trụ chí kim đài dĩ lục (cột đồng đến nay, rêu còn xanh ?)
Ðằng giang tự cổ huyết do hồng (Sông Ðằng tự xưa, máu vẫn đỏ).

          Và từ đó cuộc chiến đấu trường kỳ của dân tộc Việt đối với dã tâm xâm lăng thống trị của giặc Tàu phương Bắc, tạo thành một bản chất quật cường trong tâm khảm của mọi người. Ðó cũng là chủ nghĩa yêu nước, một tôn giáo đặc dị VN chỉ biết tôn sùng những vị anh hùng liệt nữ tận trung báo quốc, mà họ coi ngang với Trời Phật, thần Ðất.. như Ðức Thánh Trần Hưng Ðạo, đã hai lần đại thắng đế quốc Nguyên-Mông trong thế kỷ XIII khi xăm lăng Ðại Việt.

          Nói chung, trong khi chiến đấu để bảo vệ tổ quốc và nền độc lập tự do cho xứ sở, các nhà lãnh đạo Ðại Việt lúc nào cũng cứng rắn với giặc Tàu khi chiến đấu và mềm mỏng trong ngoại giao. Tổ tiên ta từ buổi bình minh lịch sử, cũng chỉ nhờ vào chủ nghĩa anh hùng và chiến lược khôn ngoan, mà đánh bại được tất cả các cuộc xâm lăng của Tống, Mông Cổ, Minh và Mản Thanh. Còn việc triều cống giặc Tàu, sau những lần chiến thắng quân xâm lăng, thực chất không phải vì nước ta sợ chúng, mà là tránh không để cho chiến tranh tiếp diễn, gây thêm cảnh sanh linh đồ thán, để khổ cho muôn người.

            Năm 1077 ba chục vạn quân Tống xâm lăng Ðại Việt. Ðại tướng Lý Thường Kiệt trong khi ngăn giặc Tàu tại phòng tuyến Sông Cầu (Bắc Việt), đã sáng tác bốn câu thơ thần, để cổ võ cho tình thần chiến sĩ nơi biên tái :

‘Nam quốc sơn hà, Nam đế cư (Sông núi nước Nam vua Nam ở )
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư (Rành rành định phận ở sách trời)
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm (Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm)
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Chúng bây sẽ bị đánh tơi bời).

            Bài thơ như một bản tuyên ngôn độc lập của nước Nam, đồng thời đanh thép cảnh cáo giặc Tàu đừng bao giờ ỷ mạnh hiếp yếu, luôn nuôi dã tâm cưởng chiếm nước người, không sớm thì muộn cũng có ngày bại vong. Tất cả là sự gắn bó mãnh liệt vào mãnh đất quê hương, vào di sản dân tộc tuy đẳm đầy máu lệ nhưng đâu có thiếu chất lãng mạng kiêu hùng, được tiếp nối thời nhà Trần, qua ba lần chống cuộc xâm lăng của Nguyên-Mông :

‘Ðoạt sáo Chương Dương độ
Cầm hồ Hàm Tử quan
Thái Bình nghi nổ lực
Vạn cổ thử giang san ‘
(Trần Quang Khải).

            Vào cuối năm Ðinh Mùi (1428), Bình Ðịnh Vương Lê Lợi sau 10 năm chiến đấu gian khổ, đã đánh đuổi được giặc Minh ra khỏi non sông đất Việt. Nguyễn Trãi thay ông viết ‘ Bình Ngô Ðại Cáo ‘ công bố trước quốc dân về công cuộc phục quốc đã thắng lợi, nước nhà lại độc lập tự chủ như thuở nào. Ðồng thời bày tỏ lòng thương xót đối với đồng bào vô tội đã bị giặc Minh tàn sát dã man, trong thời gian chúng tạm chiếm được nước ta :

‘Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn
Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ
Dối trời, lừa dân, đủ trăm ngàn kế
Người bị ép xuống biển, dòng lưng mò ngọc, ngán thay cá mập thuồng luồng
Kẻ bị đem vào núi, dãi cát tìm vàng, khốn nổi rừng sâu nước độc
Nheo nhóc thay kẻ góa bụa khốn cùng...’

            Ba trăm năm sau Mãn Thanh lại bắt đầu dòm ngó non sông Việt, qua cái cớ giúp Lê Chiêu Thống dành lại ngôi vua. Vì vậy nữa đêm mùng năm tháng giêng Tết Kỹ Dậu (1789), Ðại Ðế Quang Trung (Nguyễn Huệ) kéo quân ra Bắc và chỉ trong một hồi trống đã đại thắng giặc Thanh, bắt Sầm Nghi Ðống thắt cổ tự tử, khiến Tôn Sĩ Nghị phải ôm đầu máu, trốn vào ống đồng chạy về Tàu

            Như Lê Thánh Tôn (1460-1497) vị anh quân tài giỏi của Ðại Việt vào cuối thế kỷ XV đã nói ‘ Ta phải gìn giữ cho cẩn thận, đừng để cho ai lấy mất một phân núi, một tấc sông của dất núi ‘ Câu chuyện thần thoại về Phù Ðổng Thiên Vương cởi ngựa sắt đánh đuổi giặc Ân xâm lăng nước ta vào thời Hùng Vương thứ VI, là một triết lý lịch sử dựng và giữ nước của Ðại Việt, tuy là một nước nhỏ nhưng luôn chiến thắng kẻ thù to lớn phương Bắc, được văn chương bình dân ca tụng đầy tự tin và ngạo nghễ :

"Nực cười châu chấu đá xe
tưởng rằng chấu ngã ai ngờ xe nghiêng"

"Chim chích cắn cổ diều hâu
Gà con tha quạ biết đâu mà tìm".

            Tóm lại bài học lịch sử Việt ngàn đời vẫn còn đó : Giặc Tàu chỉ có thể xâm lăng cưởng chiếm đất đai của ta mỗi khi thế nước suy hèn, chia rẽ và nội loạn nên Hổ Quý Ly, Mạc Ðăng Dung và Chúa Trịnh đã dâng nạp cho kẻ thù phương Bắc nhiều đất đai ở biên giới Hoa Việt.

            Cuối đời Trần vua quan hèn yếu, Hồ Quý Ly tiếm vị xưng vương vào năm 1401. Trần Khang tự là Thiểm Bình, xưng là con cháu nhà Trần đến Yên Kinh xin Tàu đánh nước Nam đề giựt lại ngai vàng cho mình. Nhà Minh lợi dụng cơ hội đó sang đánh chiếm nước ta, đặt nên đô từ 1413-1428 mới chấm dứt vì bị Bình Ðinh Vương Lê Lợi đánh đuổi chạy về Tàu. Thế mới biết, Nhà Hồ dù có trăm vạn quân thiện chiến và tinh nhuệ nhưng vẫn thua giặc Minh vì mất lòng dân. Trong lúc Kháng Chiến Quân Lam Sơn chỉ có vài chục vạn nhưng quân dân trên dưới một lòng, vì vậy đã đánh đuổi được giặc Tàu xâm lăng ra khỏi bờ cõi, dành lại độc lập cho nước nhà.

            Năm 1786, Duy Kỳ hay Duy Khiêm lên nối ngôi vua Hậu Lê tức là Mẫn Ðế niên hiệu Chiêu Thống. Năm 1788 vì thù hận Tây Sơn và Chúa Trịnh, đồng thời muốn giựt lại chiếc ngai vàng cho nhà Lê, nên Chiêu Thống chạy sang cầu viện Mãn Thanh sang chiếm nước ta nhưng bị Ðại Ðế Quang Trung đuổi đánh phải chạy về Tàu vào năm 1789.

            Và lịch sử lại tái diễn tấn tuồng ‘ Rước voi Tàu về dầy mã Tổ Hồng Lạc ‘ từ tháng giêng năm 1949, Hồ Chí Minh triệu tập hội nghị trung ương lần thứ 6 để ‘ nổ lực chuẩn bị sẳn sàng đón lấy dịp tốt, tuyệt đối không nên bỏ lỡ cơ hội chiến lược từ Trung Cộng ‘.Cho nên không ngạc nhiên khi thấy Tàu Ðỏ là nước đầu tiên công nhận Việt Cộng vào ngày 10-1-1950. Ðây cũng là thời gian HCM bí mật sang Tàu chầu Mao Trạch Ðông cầu viện. Từ đó về sau Hồ chọn ngày 10-1 làm quốc lễ và gọi đó là ngày ‘ thắng lợi ngoại giao ‘.Hàng ngàn cố vấn Tàu có mặt đông đảo tại VN, trong số này có các tướng Trần Canh, Vi Quốc Thanh, Lã Quí Ba.. giúp các đệ tử thân tín của Hồ từng hoạt động bên Tàu, nắm giữ các địa vị then chốt trong đảng , ngày qua ngày cứ thế sản sinh bè phái thân Trung Cộng, khống chế quyền lực cả nước tới nay, biến nước ta thành một quận huyện của Tàu như thời Bắc thuộc.

            Tháng 7-1954, ngay khi chữ ký trên văn bản ngưng bắn tại Genève chưa ráo mực, thì Hồ Chí Minh đã nghĩ ngay tới chuyện chiếm miền Nam để làm quà triều cống thiên triều. Do ý đồ trên, Hồ đã gài lại một số lớn cán binh bộ đội nằm vùng khắp lãnh thổ VNCH khi có lệnh tập kết. Ðể chuyển quân cũng như tiếp tế, Hồ mở con đường chiến lược Trường Sơn trên bộ, xuyên qua lãnh thổ Lào và Kampuchia . Về mặt biển, Hồ thành lập đường 559B giao cho Ðồng văn Cống chỉ huy. Dĩ nhiên muốn an toàn, đầu tiên là phải nhổ tuyệt hai tiền đồn của QLVNCH trấn đóng trên quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, đất đai thuộc lãnh thổ từ lâu đời của dân tộc Ðại Việt, đã được tổ tiên bảo toàn từ thời Hậu Lê, Nhà Nguyễn.. nằm trong Ðông Hải.

            Theo bản tin của UPI-AFB ngày 23-9-1958, được báo chí của Trung Cộng lẫn Việt Cộng đăng tải. Những tài liệu này, hiện vẫn được lưu trữ tại các thư viện quốc tế như Luân Ðôn, Paris, Hoa Thịnh Ðón, Bắc Kinh... kể cả Hà Nội. Nhờ đó, ta mới biết được, vào ngày 14-9-1958, Phạm Văn Ðồng lúc đó là thủ tướng,theo lệnh của chủ tịch nước và đảng VC là Hồ Chí Minh, đả cam kết với Chu Ân Lai, thủ tướng Trung Cộng, bằng văn kiện xác quyết như sau ‘Chính phủ VNDCCH tôn trọng quyết định, lãnh hải 12 hải lý cũng như hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa, là Tây Sa-Nam Sa, của Trung Cộng’. Ngày 22-9-1958, đại sứ VC tại Bắc Kinh là Nguyễn Khang dâng lên Thiên Triều văn kiện xác nhận điều trên do Phạm Văn Ðồng ký. Ngay cả khi đã cướp chiếm được hoàn toàn miền Nam VN, vào tháng 5-1976, trên tờ Sài Gòn Giải Phóng của VC nằm vùng Ngô Công Ðức, Lý Quý Chung.. vẫn còn đăng lời xác nhận của đảng VC, là Hoàng Sa-Trường Sa là của Trung Cộng. Khôi hài hơn, VC nói, 'vì ta và Tàu sông liền sông, núi dính núi, nên Hoàng Sa-Trường Sa, của ai cũng thế thôi, nên VC muốn lấy lại đảo, lúc nào Trung Cộng vẫn sẵn sàng giao trả‘. Luận điệu trên, rõ ràng VC đã xác nhận VN là thuộc địa của Tàu Cộng. Dù ngày 14-3-1988, VC và Trung Cộng đã giao tranh đẩm máu tại Trường Sa nhưng ngay sau đó trên tờ Nhân Dân số ra ngày 26-4-1988, VC vẫn xác nhận sự kiện Hồ Chí Minh bán hai đảo cho Tàu năm 1958 là đúng. Bởi có vậy, Trung Cộng mới viện trợ súng đạn, gạo tiền và cả triệu quân , để VC đánh chiếm VNCH từ 1955-1975.

            Một bí mật khác cũng đã được báo chí phổ biến cho biết “vào tháng 4-1972 khi Tổng Thống Mỹ Nixon tới Bắc Kinh cầu thân với Tàu đỏ, được Mao Trạch Ðông đem công hàm bán đảo do Hồ Chí Minh và Phạm Văn Ðồng ký năm 1958 làm bằng chứng“ để phản đối việc tàu Hoa Kỳ vi phạm lảnh hải quần đảo Hoàng Sa của chúng (?). Còn Kissinger thì xảo quyệt hơn khi viết hồi ký về chuyến đi đó đã không hề thắc mắc hay nhắc tới một chữ về việc Trung Cộng đòi chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng-Trường Sa, dù cả hai đều biết “các quần đảo này của VNCH". Từ đó, Nixon ra lệnh cho Hạm Đội 7 tại Thái Bình Dương phải ở xa hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đúng 12 hải lý như Trung Cộng đã quyết định.

            Ngày 11-1-1973 Trung Cộng công khai tuyên bố chủ quyền trên toàn thể các đảo của VN trong biển Ðông. Ngày 26-12-1973 Bắc Kinh bắt đầu thương thuyết việc khai thác dầu khí tại vịnh Bắc Việt với Ý Ðại Lợi. Tháng 1-1974 giặc Tàu xua hải lục không quân chiếm Hoàng Sa và dù Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã trực tiếp yêu cầu Bộ Quốc Phòng Mỹ giúp nhưng Mỹ lại ra lệnh Hạm Ðội 7 không can thiệp, kể cả cấm cứu vớt các chiến sĩ hải quân VNCH lâm nạn trong cuộc hải chiến trên, dù lúc đó hai bên vẫn còn là đồng minh đồng đội.
       
            Ngày thứ Bảy 17-2-1979 lúc 3 giờ 30 sáng, 600.000 quân Tàu tiền pháo hậu xung, ào ạt mở cuộc xâm lăng đại quy mô vào VN, trên vùng biên giới từ Lai Châu tới Móng Cáy. Thế là tình nghĩa vô sản quốc tế trong sáng giữa hai nước đã trở thành hận thù thiên cổ. Những địa danh Cao Bằng, Lạng Sơn, Ðồng Khê, Thất Khê.. lại đi vào những trang Việt sử đẩm máu của VN chống xâm lăng Tàu. Cuộc chiến thật đẫm máu ngay từ giờ phút đầu. Quân Tàu dùng chiến thuật cổ điển thí quân với tiền pháo hậu xung, bằng các loại hỏa tiễn 122 ly và đại bác nòng dài 130 ly, với nhịp độ tác xạ 1 giây, 1 trái đạn. Sau đó Hồng quân tràn qua biên giới như nước lũ từ trên cao đổ xuống. Tuy nhiên khắp nơi, Trung Cộng đã gặp phải sức kháng cự mãnh liệt của VN, một phần nhờ địa thế phòng thủ hiểm trở, phần khác là sự yểm trợ hùng hậu của pháo binh các loại, gây cho giặc Tàu nhiều tổn thất về nhân mạng tại Lạng Sơn và Cao Bằng.

            Sau 16 ngày giao tranh đẫm máu, Trung Cộng cũng như Khmer đỏ tàn phá tất cả tài sản của dân chúng, bắn giết tận tuyệt người VN, san bằng các tỉnh biên giới mà suốt cuộc chến Ðông Dương lần II (1960-1975) gọi là vùng an toàn. Ðã có hằng trăm ngàn vừa dân vừa lính của cả hai phía thương vong. Tại miền Bắc, hằng triệu dân chúng phải phân ly. Nhà cửa, vườn ruộng, của cải vật chất, đền đài, miếu võ, nhà thờ, di tích tổ tiên bao đời để lại.. đều vì VC gây chiến tranh, mà tan tành theo cát bụi.

            Cuộc chiến tưởng đâu đã chấm dứt vì VC dấu nhẹm tin tức từ ấy cho đến năm 2006, nhờ mạng lưới Internet của Bộ Quốc Phòng Trung Cộng (Defense-China.com) và tác phẩm ‘Dữ Kiện Bí Mật Của Cuộc Chiến Tranh Trung-Việt (Secret Records of Sino-Vietnamese War)‘ của Jin Hui, Zhang Hui Sheng và Zhang WEi Ming, cả thế giới biết được ‘Bí Mật Lịch Sử về việc Tàu chiếm Núi Ðất của VN, trong cuộc chiến biên giới lần hai (1984-1989)‘. Theo tài liệu dẫn chứng, năm 1984 Trung Cộng lại vịn cớ CSVN thường pháo kích và tấn công biên giới nên bất thần tấn công cưởng chiếm Núi Ðất của VN tại tỉnh Hà Giang (Thượng Du Bắc Phần), mở màn cho cuộc chiến Biên Giới Việt Hoa lần thứ hai, kéo dài từ năm 1984-1989 mới chấm dứt, do Việt Cộng tự bỏ đất rút quân, nhượng bán (?) lãnh thổ cho giặc Tàu.

            Ngày nay nhờ sự bạch hoá của nhiều văn khố trên thế giới và nhất là sự tiết lộ của Tàu đỏ, chúng ta thấy dã tâm của Trung Cộng qua cái gọi là ‘đồng chí XHCN hay 4 tốt 16 chữ vàng ‘ thực chất chỉ là lợi dụng xương máu của người VN qua bình phong ‘ sát cánh anh em chung ý thức hệ Cộng Sản‘ để bảo vệ dùm biên giới phía Nam của chúng. Năm 1968 sử gia Pháp Francois Joyaux đã dựa vào tài liệu lưu trữ trong văn khố kết luận “sự có mặt lần đầu tiên của Mao tại hội nghị Geneve 1954, đã chứng tỏ sự quan tâm lớn lao tới tình hình Ðông Dương thời đó của Trung Cộng". Còn Paul Mus một học giả Pháp chuyên nghiên cứu về VN, vào năm 1965 đã viết "Sở dĩ Mao nhượng bộ Pháp tại hội nghị Geneve 1954, mục đích cũng chỉ muốn ngăn chận sự thống nhất của VN cũng như không cho CSVN thống trị toàn thể bán đảo này".
       
            Ðây mới là lý do quan trọng nhất để Trung Cộng sẵn sàng hy sinh mọi thứ, chẳng những dồn hết nhân vật lực hổ trợ cho Hà Nội, mà còn ra lệnh cho các đàn em Lào và Cao Miên cho Hồ Chí Minh sử dụng hành lang của hai nước này tại biên giới để Bắc Việt làm đường mòn chuyển quân trang quân dụng vào xâm lăng VNCH. Tóm lại đời đời Trung Cộng vẫn coi Việt Cộng như là một phương tiện không hơn không kém để đạt cứu cánh bành trướng lãnh thổ của mình xuống Nam phương và Đông hải.

            Từ năm 1960, Hồ chí Minh, Duẩn, Giáp, Ðồng, Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Hoan, Lê Ðức Thọ, Trường Chinh..là những chóp bu lãnh đạo đảng CSVN, trong số này Hoàng Văn Hoan và Trường Chinh theo Tàu Ðỏ ra mặt. Sự tranh dành quyền lực đảng sau bức màn đỏ rất quyết liệt sắt máu, giữa hai phe Lê Duẩn, Lê Ðức Thọ, Nguyễn Chí Thanh và Võ Nguyên Giáp, vì được bưng bít kỹ cho nên người ngoài ít ai biết được. Sinh thời HCM luôn coi trọng Giáp hơn Duẩn nên dù Duẩn là bí thư thứ nhất của đảng nhưng vẫn là phó cho Giáp trong quân ủy.

            Lúc đầu Duẩn vì có lập trường đối đầu với Giáp nên ngã theo Trung Cộng. Trong thời gian Khrushchev cầm quyền Liên Xô có chủ trương xét lại và chống đối Tàu đỏ, đồng thời ra mặt o bế Giáp đầu đảng phe thân Nga lúc đó, với mục đích chia rẽ nội bộ CSVN. Năm 1967 Khruchchev bị hạ bệ, Duẩn-Thọ vin vào thời cơ để tạo ra vụ án xét lại, loại bỏ gần hết phe đảng của Giáp. Riêng Giáp nhờ có HCM che chở nên được sống già vô tích sự tới ngày nay.

            Từ sau tháng 5-1975 mặt nạ ‘đánh Mỹ cứu nước‘ của CSVN đã rớt, cũng là lúc kết thúc trò đu dây giữa Nga-Tàu để hưởng lợi. Liên minh Ðông Dương cũng không còn qua sự phá hoại của Trung Cộng, quan hệ Việt-Hoa rạn nứt từ những ân oán cũ mới. Cuối cùng Duẩn bỏ Tàu theo Nga gây nên cuộc chiến long trời lở đất tại biên giới Việt-Miên-Hoa từ năm 1978-1990.

            Tháng 3-1985 Gorbachev làm tổng bí thư Liên Xô, phát động chính sách ‘cởi mở (glasnov) và tái cấu trúc (perestroika)‘ để cứu vản nền kinh tế của Nga đang trong cơn khủng hoảng vì phải cưu mang quá nhiều ngoại viện cho các nước chư hầu trong đó có CSVN. Ðồng thời, Gorbachev còn nối lại liên hệ với kẻ thù Hoa Kỳ và Trung Cộng. Trong bước đường cùng vì bị cả thế giới bỏ rơi ngoảng mặt, tháng 8-1986 Hà Nội tuyên bố rút hết quân ra khỏi Kampuchia và muốn nối lại quan hệ ngoại giao với Bắc Kinh. Trường Chinh (tạm thay Lê Duẩn mới chết, làm quyền tổng bí thư) còn gửi điện văn chúc mừng quốc khánh của Tàu đỏ.

            Tóm lại sự suy sụp của đế quốc Liên Xô vào năm 1986 cộng thêm cái chết của Lê Duẩn, đã đưa CSVN vào ngõ cụt về ý thực hệ, kinh tế gần như khánh tận, quân sự bị sa lầy tại Kampuchia.. Nên để cứu đảng, cứu thân, bọn chóp bu tại bắc bộ phủ mới được bầu trong đại hội đảng lần thứ VI (Linh, Hùng, Công, Mười, Kiệt..) qua cố vấn của Chinh, Ðồng, Thọ “quyết tâm phấn đấu để sớm được trở lại làm đầy tớ cho Tàu“. Trong lúc đó, Trung Cộng vẫn công khai xua quân chiếm thêm nhiều đất đai của ta tại biên giới và các đảo thuộc quần đảo Trường Sa của VN vào ngày 16-3-1988 trước sự phản ứng lấy lệ gần như đầu hàng giặc của chóp bu CSVN.

            Tháng 4-1989 Trung Cộng dùng xe tăng đại pháo tàn sát dã man sinh viên và dân chúng biểu tình đòi dân chủ tại quảng trường Thiên An Môn (Bắc Kinh). Từ cuối năm 1989-1990, Ðông Ðức, Ðông Âu và đế quốc Sô Viết tan rã, khối XHCN chỉ còn lại Tàu đỏ, Việt Cộng, Bắc Hàn và Cu Ba. Trước nổi chết gần kề, ngày 10-4-1990 bộ chính trị cộng đảng VN họp khẩn để ‘ nhất trí  quyết tâm bằng mọi giá (kể cả bán nước, bán dân) được theo Tàu để bảo vệ XHCH. Và từ đó tới ngày nay 11-2012) , cái giá máu mà dân tộc VN phải đổ ra để CSVN trả nợ cho giặc Tàu là một phần lảnh thổ gồm đất đai, biển, đảo và sự Hán hóa dân tộc Việt của Trung Cộng.

            Ðổ Mười, Lê Khả Phiêu, Trần Ðức Lương, Nông Ðức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang.... đã và đang viết phần cuối trang sử nô lệ giặc Tàu mà Hồ Chí Minh đã đề ra từ năm 1930. VN sẽ trở thành một quận huyện của Trung Hoa như thời Bắc Thuộc. Tất cả đều là sự thật nhục nhã và đau lòng.

            Tháng 1-1285 trước sự xâm lăng lần thứ 2 của Mông Cổ, Ðại Ðế Trần Nhân Tôn đã mời các vị bô lảo khắp nước về hội tại điện Diên Hồng (Thăng Long) để hỏi ý kiến nên ‘ hoà hay chiến ‘ với giặc.

- Trước nhục nước nên hoà hay nên chiến ?

- Thế nước yếu lấy gì lo chiến chinh ?


            Tất cả đều trả lời ‘quyết chiến cho dù phải hy sinh tài sản và tính mệnh‘ để bảo vệ non nước Việt. Sau đó người cả nước đều dùng mực thích vào cánh tay hai chữ ‘Sát Đát‘. Nhờ vậy mà nước ta vào thời Trần đã 3 lần chiến thắng giặc Mông Cổ khi chúng sang xâm lăng Ðại việt. Ngày nay VN đang đứng trên bờ vực thẳm của sự hũy diệt và nô lệ giặc Tàu nhưng đảng CS đang lãnh đạo đất nước lại công khai đầu hàng giặc, ngăn cấm quân đội và toan dân cả nước chống lại kẻ xâm lăng, trong đó có quyền được biểu tình. Tệ mạt hơn, đảng còn khủng bố đồng bào phải ‘đời đời nhớ ơn Trung Cộng‘!

            Sau ngày 30-4-1975, hằng năm CSVN đều tổ chức ăn mừng ‘chiến thắng Tết Mậu Thân 1968‘ và ‘đại thắng mùa xuân 1975‘. Nhưng tuyệt đối không nhắc tới một chữ về những đau thương trầm thống mà giặc Tàu đã gây cho Nước Việt và đồng bào Việt trong cuộc chiến biên giới Hoa-Việt khởi sự từ ngày 17-2-1979 và kéo dài tới đầu thập niên 1990 mới tạm dứt sau khi toàn bộ chóp bu VC đầu hàng Tàu đỏ.

            Ðã vậy VC còn công khai khinh thường và hạ nhục cả nước, khi đảng cùng với Trung Cộng rầm rộ tổ chức ăn mừng đã hoàn thành việc cắm mốc biên giói Việt-Trung tại Ải Nam Quan vào ngày 24-2-2009. Biên bản do Nguyễn tấn Dũng ký vào cuối năm 2008 nhưng đã tuyệt tích vì bị đảng ém nhẹm nên người dân không hề hay biết một điều gì.

            Tháng 4-2008, VC giup Tàu đỏ tổ chức rầm rộ cuộc rước đuốc máu Thế Vận Hội Bắc Kinh tại Sài Gòn. Ngày 1-10-2012, VC hoan hĩ gửi điện văn và tổ chức ăn mừng  quốc khánh Trung Cộng tại quần đảo Hoàng Sa của VN, mà giặc đã cưởng đoạt vào tháng 1-1974..Toàn cảnh bức tranh “đời đời nhớ ơn giặc Tàu“ được Hồ Chí Minh và CSVN khắc cột ghi tâm, nên chuyện những người yêu nước chống ngoại xâm hiện nay tại VN bị tàn sát, tù đày, thủ tiêu và khủng bố..cũng chẳng làm ai ngạc nhiên và khiếp sợ, vì bộ mặt thặt của đảng từ trên xuống dưới đã bị nhận diện, sau khi cái gọi là “hội nghị tự phê của đảng làn thứ 6“ khai mạc và kết thúc vào tháng 10-2012, được các diễn đàn “Dân Làm Báo, Quan Làm Báo, Báo Tổ Quốc, Biển Đông“ phổ biến sâu rộng khắp hang cùng ngõ hẹp trên trái đất.

            Do những điều kiện nghiệt ngã về địa dư và lịch sử, mà bao đời VN vẫn coi việc chống giặc Tàu như một thứ tôn giáo trong nhân sinh quan của người Việt. Có thể nói nước Việt tồn tại bao nhiêu năm cũng là bấy nhiêu năm đấu tranh máu lệ với giặc Tàu để giành giựt sự sinh tồn. Chiến tranh đối với dân tộc Việt là cuộc đổ máu vì lý tưởng và bổn phận. Chiến tranh là cơ hội để tồn vong trước sự xâm lược của ngoại bang.      
       
            Ðại hội VI (1986-1991) ngoài thành tích đổi mới kinh tế theo định hướng XHCH để tạo thêm đặc quyền đặc lợi cho cán bộ, bộ đội, công an và tư bản đỏ làm giàu thêm nhờ than nhũng và ăn cắp của công. Tháng 7-1987 hội nghị trung ương đảng họp và ban hành nghị quyết số 2 cấm ‘QUÂN ÐỘI NHÂN DÂN VN KHÔNG ÐƯỢC ÐỤNG CHẠM VỚI QUÂN TÀU ÐỎ‘. Lệnh này được giữ kín mãi tới ngày 28-1-1990 báo Nhân Dân mới đăng tải.

            Từ năm 1988, tình đồng chí giữa VC và Nga Sô, Ðông Âu càng trở nên khó khăn vì tiền viện trợ đã bị cắt giảm. Trong lúc cuộc đổi mới kinh tế mới vừa chập chững, mức sản xuạt lương thực trì trệ khiến nạn thất nghiệp càng gia tăng vì Hà Nội cắt giảm quân số. Thừa nước đục thả câu, Tàu đỏ đánh bồi thêm để cho VC phải quì gối cúi đầu xin xõ làm lãi đầy tớ cho chúng.TỪ 14-16/3/1988 Tàu đỏ tấn chiếm đảo Fiery Cross trong quần đảo Trường Sa đang thuộc chủ quyền VN. Trận hải chiến đã khiến cho 77 bộ đội chết thảm, trước sự bất lực của đảng và không một lời phản ứng của Nga Sô cũng như LHQ.

            Những biến cố chết người kể trên làm giao động hốt hoảng tới đứng tim bọn chóp bu lớn nhỏ trong đảng VC, nên đảng đã hop khẩn ngày 10-4-1990 với Nguyễn Văn Linh, Lê Ðức Anh, Ðào DuyTùng, Ðồng Sĩ Nguyên.. đều nhất trí kết tội Mỹ đã gây ra ‘diễn biến hòa bình‘ tại Ðông Âu, Ðông Ðức và Sô Viết. Do đó đảng nghị quyết về nhu cầu cấp bách phải ‘THEO TÀU‘ để cứu nguy cho XHCN, bất chấp những lời khuyến cáo như ‘TC chỉ lấy lợi ích của dân tộc mình là chính, chứ chẳng bao giờ thèm nghĩ tới tình đồng chí XHCN. Bởi vậy dù VN có muốn hòa hoản thì chỉ là ảo tưởng mà thôi, đối với một láng giềng trước sau chỉ muốn tiêu diệt dân tộc Việt‘.

            Bổn cũ tiếp tục soạn lại qua các lần đại hội đảng kế tiếp với Mạnh, Lương, Khải, Triết rồi Trọng, Sang, Dũng..Tất cả đều theo đúng mẫu mã khuôn rập đã có sẳn từ thời Hồ Chí Minh của mấy chục năm về trước ban truyền “đời đời theo Tau và nhớ ơn thiên triều“.

            Trong cơn sơn hà nguy biến, dân tộc lâm nguy, đồng bào cả nước và hải ngoại ai nấy đều chung căm hận, quyết chờ cơ hội thuận tiện để đồng đứng chung dưới lá cờ đại nghĩa, để đánh đuổi giặc Tàu ra khỏi Hoàng Sa, Trường Sa, Biển Ðông, Biên Giới.. như tổ tiên ta ngày trước đã từng làm. Vì VN không phải là một nước nhỏ, dân Việt không phải là loại người khiếp hèn. Nhõ hay hèn trước giặc Tàu phương Bắc, chỉ có đảng CSVN còn 80 triệu người Việt luôn khẳng định sức mạnh của mình, sẽ không bao giờ để cho Tàu đỏ hung hăng bá quyền nước lớn, khi đồng bào dành lại được quyền làm chủ nước trong tay CS. Ngày đó không xa và chắc chắn VN sẽ dành lại những phần đất của tổ tiên, bị VC dâng bán cho Tàu đỏ suốt mấy chục năm qua.

Tài Liệu Tham Khảo:

-Hồ Chí Minh& Ngô Đình Diệm (Hồ Sĩ Khuê)
-Nhận Diện Huyền Thoại Võ Nguyên Giáp (Huy Phong & Yến Anh)
-VN đỏ Sau Chiến Tranh (Việt Dương)
-Hồ Chí Minh Tại Trung Quốc (Tưởng Vĩnh Kính)
-VN Niên Biểu Nhân Vât Chí (Chánh Đạo)
-Sau Bức màn đỏ (Hoàng Dung)
-Bí Mật VN Qua Hồ Sơ Wikileaks (NV xuất bản)
-Diễn đàn Dân Làm Báo, Biển Đông, Tổ Quốc, Trách nhiệm..)
-Các đài Pháp, VOA..


Từ Xóm Cồn Hạ Uy Di
Những ngày đầu tháng Giêng 2013
MƯỜNG GIANG