Sunday, February 8, 2015

Màu Cờ: Biểu tượng và Niềm tin (P.1)

- "Tôi cho rằng đó là Màu Cờ của Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Công Lý và Độc Lập Dân Tộc. Đó là Lá Cờ đánh đuổi ngoại xâm đã có từ thời Hai bà Trưng. Đất nước này, dân tộc này còn tồn tại là do màu cờ Chính Nghĩa này đã khởi xướng và lưu truyền lại cho con cháu qua nhiều triều đại. Đó là Lá Cờ truyền thống của dân tộc mà người Miền Nam đã kéo lên lễ đài “dinh Toàn Quyền” để chấm dứt cuộc đô hộ của thực dân Pháp. Đó là Màu Cờ mà chính phủ miền Nam đã kéo lên để mở đường cho hơn một triệu người miền Bắc trốn chạy cộng sản, di cư vào Nam, xây dựng đời sống vào năm 1954. Đó là Màu Cờ đã phủ lên mình Ngụy Văn Thà và đồng bạn của anh, những người chiến binh đã hy sinh vì tổ quốc trong cuộc chiến Hoàng Sa đánh đuổi quân xâm lăng Trung cộng. Đó là Màu Cờ Vàng mà ngày nay vẫn ngạo nghễ tung bay, khoe sắc trên bầu trời thế giới. Đó là Màu Cờ ở trong tim lòng ngươi dân Việt Nam."
*
Với quốc gia: Lá Cờ là nghi biểu linh thiêng, sống động của Tổ Quốc.

Với dân tộc: Lá Cờ là sự kết hợp một truyền thống lâu dài, là văn hóa, là biểu hiệu một ý chí kiên cường bảo vệ cuộc sống Công Lý cho chủng tộc trong Tự Do, Công Bình, Nhân Bản. Diễn đạt một ý chí Độc Lập của đất nước.

Ông Vĩnh, một cựu chiến binh trong QLVNCH. Từ ngày ra khỏi nước, trong nhà ông, ngoài bàn thờ, bài vị của tổ tiên ra, bao giờ cũng thấy có những biểu tượng mà ông đã “một đời” hy sinh vì nó như lá Cờ Vàng, tấm huy chương, hay tấm hình ngày ông quỳ xuống nhận trách nhiệm với non sông. Tất cả được đặt ở những vị trí trang trọng nhất. Rủi thay, đứa con ông dứt ruột đẻ ra. Khi CS vào, chính ông cõng nó, ông bồng nó trốn chạy cộng sản ra hải ngoại. Niềm vui chưa kịp đến khi nó khôn lớn, là một bác sĩ, kỹ sư, luật sư... lại đến câu chuyện ông mất con.
Chuyện kể, sau vài chuyến về Việt Nam với cô bạn gái là du học sinh. Chẳng biết nghe ai xúi, Minh (lại cũng tên Minh!) một bác sĩ mới ra trường, hùng dũng mang về tấm hình Hồ chí Minh và cái lá cờ của cộng sản Phúc Kiến. Nó treo lên bức tường chính của phòng khách. Ông Vĩnh đi làm về nhìn thấy. Máu uất bốc lên. Ông giật ngay cái lá Cờ Đỏ và tấm hình có nắm lông mồm của HCM quẳng ra ngoài sân. Minh bất bình, lớn tiếng kết tội ông bố độc tài, ích kỷ, thiếu ý thức chính trị, không tôn trọng tự do của người khác. Cuộc khẩu chiến bùng lên. Ông Vinh săn tay áo lên "Nói thế là mày phản bội lại những hy sinh của gia đình này, mày không xứng đáng ở lại đây. Hãy thu đồ ra khỏi nhà ngay. Mày tưởng là bác sĩ, là luật sư là lên bằng giời, là có ý thức chính trị hay sao? Đi, đi ngay! Công lao tao đưa mày đi vượt biển, nuôi mày ăn học, kể bỏ. Đi, đi ngay! Tao thà là không có mày, còn hơn bị nguyền rủa”! Mặc cho bà vợ réo gào. Lệnh vẫn xé màng tang. Minh cũng “hách” không kém, cuốn cờ, nhặt lấy tấm hình, xách va li, lái xe ra khỏi nhà. "Xem mi đi được bao lâu, tốt nhất là về bên đó mà sống luôn với nó (cờ đỏ), đừng ở đây, ăn cơm gạo ở xứ này làm tủi nhục cho bố mẹ mày, tủi nhục lây cho những người đi tỵ nạn! Đi, Đi cho khuất mắt."

     Trong Đèn Cù của Trần Đĩnh cũng có câu chuyện tương tự: “tình cờ gặp Minh Trường, phóng viên nhiếp ảnh Thông tấn xã năm 1971 đã cùng tôi vào vùng rốn lụt của Hải Dương. Anh thuộc lớp người đầu tiên về Sài Gòn chiến thắng. Nhưng anh đã nếm một chiến bại đớn đau. Hơn một năm sau kể lại với tôi, giọng anh vẫn run run như nghẹn lại. Lẽ tất nhiên anh rất vui khi lần đầu tiên trở lại đứng trước nhà mình bấm chuông. Thì mẹ anh mở cửa. Thì mẹ liền chắp hai tay lạy: - Anh còn sống thì tôi mừng nhưng anh về thì tất cả các đứa con bao lâu nay sống với tôi, chăm sóc phụng dưỡng tôi đều đã bị các anh lôi đi tù hết mất rồi. Anh về thì nhà này tan nát, thì tôi trơ trọi. Thôi, tôi xin anh, anh đi với đồng chí của anh đi cho mẹ con tôi yên” (tr 486)

     Hai câu chuyện về Màu Cờ, một xảy ra ở bên Mỹ, một bên ta cách nhau có đến gần ba mươi năm, chẳng hẹn mà cùng gặp một kết quả. Trước mắt, nó làm cho hai gia đình trong cuộc tan nát, ly tan. Thoáng nhìn, có người cho rằng "xử sự” như thế là khắt khe, là không công bằng, là áp bức không có tự do? Tôi cho luận điệu, phản bác này là ấu trĩ, như đứa trẻ lên ba chưa biết mặc quần đã biết làm "cách mạng VC". Bởi lẽ, nếu lá Cờ Vàng và tấm hình của TT Diệm xuất hiện ở trong một gia đình nào đó trong vùng đất cộng sản chiếm đóng thì gia đình ấy sẽ ra sao? Liệu có phải chỉ là cuộc “khẩu chiến” xuông trong nhà, hay sẽ là cảnh chủ nhân bị cán cộng đến bịt mắt đưa đi vào lúc nửa đêm? Lúc ấy có là tự do, có là thiếu hiểu biết chính trị hay không?

      Như thế, ông Vĩnh và bà mẹ Việt Nam trong Đèn Cù có đủ lý do khi có quyết định này. Họ là người tôn trọng lẽ phải. Có trách là trách con ông như kẻ sa đà, lỡ nghiện thuốc phiện. Nó không chỉ phản bội lại chính lòng hy sinh, mồ hôi, nước mắt và có thể cả máu của ông mà thôi, nhưng còn là sự phản bội với đồng bào, những người chiến binh đã hy sinh xương máu để bảo vệ Màu Cờ Tự Do, Độc lập của dân tộc nữa. Sự phản bội này xem ra rất khó “hóa giải”. Theo đó, giải pháp tình thế này được coi là khả dĩ hơn là chuyện “yên lặng”, để cho tình cha con mỗi ngày chồng chất thêm đau thương, lẫn hận thù trong cuộc sống giả dối. Hơn thế, là cơ hội để cho con ông tự biết trái, biết phải. Biết suy nghĩ và biết sống cho nên người chân thật. Chuyện bà mẹ của Minh Tường cũng thế. Bà đã không còn chọn lựa nào khác. Thà mất con (như đã từng mất khi nó thoát ly ra đi) hơn là chấp nhận cho nó mang tội ác và gian trá về nhà! Cuộc chiến trong nhà, nơi chỉ có tình cảm còn gay gắt thế. Nói chi đến cuộc chiến ngoài xã hội, nơi tựa vào lý lẽ nhiều hơn. Nhưng từ đâu, cuộc bể dâu đã đổ xuống thân phận Việt Nam?

I. Đôi dòng Lịch Sử

1. Cờ Vàng
Từ rất xa, khoảng năm 40 sau công nguyên, nước ta còn bị Tàu phương Bắc đô hộ. Hai Bà Trưng, đã dùng Cờ Vàng để khởi nghĩa, đánh đuổi quân xâm lăng. Bà lấy lại 65 thành trì để xưng vương. Từ đó sắc cờ Vàng luôn ẩn hiện trong các triều đại kế tiếp. Đến triều Nguyễn, hai sọc đỏ được thêm vào lá Cờ Vàng, và kích thước cũng khác đi, Đến năm 1945, một sọc đỏ (đứt quãng) được thêm vào giữa hai sọc đỏ có từ trước. Rồi vào năm 1948, cựu hoàng Bảo Đại đã cho nối liền sọc đỏ ở giữa lại. Từ đó trên toàn cõi Việt Nam, từ Bắc chí Nam, chỉ có một màu Cờ Vàng tung bay theo nước rộng sông dài, là nghi biểu thiêng liêng của đất nước. Màu Cờ Vàng là sự kết hợp một truyền thống, một lịch sử, một văn hóa, biểu hiệu một ý chí kiên cường bảo vệ cuộc sống cho chủng tộc trong Tự Do, Công Bình, Nhân Bản và diễn đạt một ý chí Độc Lập của dân tộc. Đó là màu cờ của sự sống.

2. Cờ Đỏ
Vào khoảng năm 1940, Hồ Quang, (trích theo tài liệu trong quân ủy trung ương Trung cộng và tài liệu chính quy của CSVN) là thiếu tá tại chức, tùng sự trong bát lộ quân, ngành điện báo của Trung cộng dưới quyền chỉ huy của tướng Chu Đức, đã được lệnh xâm nhập vào Việt Nam và sau đổi là Hồ Chí Minh. Khi vào Việt Nam Y mang theo lá Cờ Đỏ có một sao vàng là cờ khởi nghĩa của đảng cộng sản Phúc Kiến do Li ji Shen lãnh đạo. Sau khi vào Việt Nam, theo Võ Nguyên Giáp, lá Cờ Đỏ ban đầu dùng làm cờ lệnh của đảng. Sau biến cố cướp chính quyền của Việt Minh vào năm 1945, nó trở thành Lá Cờ của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do Hồ Chí Minh lãnh đạo để từ đây thi hành những chỉ thị từ Trung cộng. Sau ngày 30-4- 1975, nó là biểu tượng của nhà nước CHXHCNVN trở thành bàn đạp cho bá quyền Trung cộng tràn xuống phương Nam. Nó là Màu Cờ chuyên chở số phận con người trở về, lệ thuộc và sống trong nô lệ. Chính nó, từ Liên Xô, Trung cộng đã giết chết cuộc sống của nhiều dân tộc, trong đó có Việt Nam. Nó giết chết hết tất cả mọi niềm tin, mọi hy vọng, mọi yêu thương, mọi nhân ái trong lòng người Việt Nam. Nó giết chết cuộc sống yên bình của con người. Nó đẩy dân tộc ta vào cảnh khố đáy điều linh. 
Với một nguồn gốc, lịch sử và văn hóa khác biệt và xung khắc như thế, chắc chắn không bao giờ có thể có sự dung hòa giữa hai Màu Cờ này. Trái lại, sẽ là cuộc đồi đầu và loại trừ nhau một cách vĩnh viễn. Sự loại trừ này giống như sự thiện, công lý không thể chấp nhận tội ác và gian trá. Sự Thiện, Ác, Công Lý và gian trá là cuộc chiến không bao giờ chấm hết, nhưng cuộc chiến giữa hai Màu Cờ sẽ chỉ là một giai đoạn và nó sẽ kết thúc vói một mất một còn. Cờ Đỏ có thể đã thành công trong bốn mươi năm qua, nhưng Cờ Vàng không bao giờ biến mất, khi cờ Vàng quay về, vĩnh viễn cờ Đỏ sẽ bị chôn vùi, không còn một ai nhắc nhở đến nó, ngoài tội ác và gian trá do nó gây ra. Và dĩ nhiên, trong cuộc tranh chấp cũng không thể có sự xuất hiện của một biểu tượng thứ ba. Màu cờ nào sẽ còn, cái nào sẽ bị tiêu diệt?
II. Màu cờ nào là biểu tượng, sống mãi trong lòng người?
Cờ Vàng, những tưởng là đã tan biến đi từ biến cố 30-4-1975, không còn ai nhắc nhở đến nữa. Kết quả, lại vượt qua sức tưởng tượng của tất cả mọi người. Cờ Vàng không những chỉ tung bay trên bầu trời thế giới, là biểu tượng sống của Việt Nam Tự Do. Hơn thế, còn là niềm tin yêu, là hy vọng, là sức sống tuyệt đối cho mọi ánh mắt của mọi người ở trong nước cũng như trên thế giới cùng hướng về. 

     Tại sao Cờ Vàng, sau bốn mươi năm không còn hiện diện trên bầu trời Việt Nam, lại trở thành một niềm tin tuyệt đối để mọi người cùng dõi mặt về? 
Người dân dõi mắt về đặt niềm tin hay chỉ là hoài niệm?
 Tôi cho rằng, sẽ không có câu trả lời nào chính xác hơn là: Chính Cờ Đỏ đã dạy cho người dân Việt Nam biết đặt niềm tin và trông chờ vào sự trường tồn của Cờ Vàng. Chính Cờ Đỏ đã chỉ ra rằng, chỉ có Cờ Vàng mới khả dĩ đáp ứng được yêu cầu khát vọng Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Công Lý và sự Độc Lập của Tổ Quốc cho người dân Việt Nam. Nói cách khác, chính Cờ Đỏ đã lộ nguyên bản chất là một thứ dẻ rách đầy bội phản do CS đi vay mượn để gây ra tội ác cho dân tộc. Nó phải bị loại bỏ khỏi cuộc sống của người dân Việt Nam, dù hôm nay nó vẫn phe phẩy ở đó. Bởi lẽ:

1. Với người sống tại miền Nam
Có thể nói một cách công bằng là, cuộc sống của người miền Nam, trước 30-4-1975, không phải là cuộc sống ở trên thiên đàng. Trái lại, ở đó là chiến tranh tranh, ở đó có tang thương vì cuộc chiến. Ở đó có những sáo trộn về chính trị qua những cuộc đảo chánh rồi chỉnh lý. Ở đó không ai được hứa hẹn là hết chiến tranh sẽ dược xây dựng lại bằng mười năm xưa. Nhưng trong cuộc sống với đầy những khó khăn ấy, người người đã tích cực vun trồng hai chữ Việt Nam và đưa miền Nam vào cuộc sống rất đáng sống và rất đáng hãnh diện trên trường quốc tế. Bởi lẽ, về kinh tế, miền Nam trong chiến tranh, nhưng không nghèo khó. Người ở miền Nam chưa bao giờ phải trắng mắt lo toan ngày mai ăn gì, mặc gì. Lúa gạo, thịt cá ê hề, người dân muốn mua sắm thế nào tùy thích. Chưa có người dân nào phải đi mua hay chầu chực mua lấy nửa ký gạo, nửa ký cá, tôm bao giờ. Ngoài đường thì tràn ngập các loại xe máy, xe hơi. Về công nghệ thì đã sản xuất được xe La Dalat. Thành phố Sài Gòn đã có những thay đổi đáng kể, nó trở thành một thành phố đáng ngưỡng mộ từ các nước Đông Nam Á Châu. 

Về văn hóa. Phải nói ngay rằng, nền văn hóa nhân bản dân tộc đã được phát triển một cách toàn diện và rộng rãi tại miền Nam Việt Nam. Ở đó tinh thần Nhân Lễ Nghĩa Trí Tín Trung được đặt lên hàng đầu trong giáo dục công dân. Tạo cho người dân có ý thức trưởng thành về lòng yêu nước, về truyền thống độc lập và thấu hiểu lịch sử của dân tộc một cách rõ ràng, chính xác. Bên cạnh đó là sự tôn trọng nền văn hóa lành thánh của các tôn giáo đã tạo cho xã hội miền Nam một bộ mặt hài hòa về nhân nghĩa và đạo đức. Nạn trộm cắp không thường thấy, những tệ nạn xã hội không phải không có nhưng rất ít gặp. Riêng những tội đại nghịch bất đạo như giết cha mẹ, vợ chồng giết nhau thì hàng năm trời cũng không nghe đến một vài. Nói chi đến những trường hợp tình nhân, yêu nhau bỏ nhau là có thể ra bản án tử cho đối tác. Phần đời sống chính trị. Sự tự do, nhân phẩm, nhân quyền của người công dân được luật pháp bảo vệ và tôn trọng. Một người công dân không thể bị coi là có tội cho đến khi bị tòa tuyên án. Không ai có thể bị bạo hành từ các cơ quan trách nhiệm. Ở đó là một xã hội nhân bản, nếu không có tiếng súng đùng chát phá làng phá xóm của Cờ Đỏ trong đêm khuya thì quả là một cuộc sống đầy hoan lạc.
Tuy nhiên, sau ngày 30-04-1975 Cờ Đỏ được kéo lên cao như một dấu chỉ khác. Niềm vui chưa kịp đến vì im tiếng súng. Toàn cảnh miền Nam đã rơi vào trong hỗn loạn, hoang mang và thực sự là đối diện với lo âu và nỗi chết. Trước tiên, hàng trăm ngàn người thuộc mọi giai tầng trí thức ở miền Nam trong hàng ngũ quân, cán, chính đều bi đẩy vào các trại tù. Trong lúc hàng trăm ngàn người bị đẩy vào các trại tù khổ sai, biệt tin, tạo nên những bản tin đồn làm náo động lòng người thì ngày 12-6-1975, báo Sài Gòn Giải Phóng có bài xã luận với những lời lẽ phải được coi là loại cực kỳ vô văn hóa, nếu như không muốn nói là vô giáo dục, khi nó mô tả về những người lính miền Nam bị lùa vào tù như sau: “Đế quốc Mỹ và tay sai đã biến chúng từ con người thành ra dã thú. Cách mạng phải cải tạo chúng từ thú trở lại thành người. Phải giam chúng lại để chúng không làm hại nhân dân được nữa. Đồng thời phải cải tạo chúng để chúng cải tà quy chính”. Phần Nguyễn Hộ thì huỵch toẹt ra cái chủ trương man rợ của những kẻ còn ăn lông ở lỗ của CS khi vào Nam là “Đối với bọn Ngụy quân, Ngụy quyền, nhà của chúng: ta ở; vợ của chúng: ta xài; con của chúng: ta bắt làm nô lệ; còn bọn chúng nó: ta giam cho đến chết!” Quả là kinh hãi thay!
Kế đến là những cuộc đổi tiền. Cuộc đổi tiền mà cán cộng rêu rao là: “Miền Nam đã có một nền tiền tệ mới, khai sinh từ sự độc lập toàn vẹn của xứ sở. Nó đã kết thúc 30 năm sống dơ và chết nhục của đồng bạc Sài Gòn." Thật gớm giếc thay những cái mồm loa gian trá, điên đảo của những nhà cách mạng chưa biết mặc quần! “tiền của nước độc lập” ư? Độc lập mà phải sống dựa hơi vào đồng tiền "Mỹ Ngụy" năm xưa để cầu sống qua ngày à? Hãy nhìn lại từng đoàn xe nối đuôi nhau như bất tận, chuyên chở của cải mà cán cộng vơ vét từ miền Nam đưa ra Bắc sau ngày 30-4-1975 thì có câu trả lời. Đến nay, thử hỏi hàng năm không có hàng tỷ, tỷ đô la của người Việt gởi về giúp thân nhân thì cán cộng sống ra sao rồi? Cái đồng tiền mang hình Hồ chí Phèo ( $20,000 bằng $1 đollar) có chút giá trị nào khi trao đổi trên trường quốc tế chăng? Thật là xấu hổ cho cái đồng tiền “độc lập” của Việt cộng. Sau lần bị cướp cạn này, người dân đổ tràn ra biển với lời nguyền: Thà chết trên biển khơi còn hơn là phải ở lại sống với cái Cờ Đỏ! Nhà văn Duyên Anh, đã viết: "Cái cột đèn nếu biết đi nó cũng không dám ở lại với Hồ Chí Minh!”. Nhưng bấy nhiêu mới chỉ là khởi đầu. Nay thì toàn thể xã hội đã biết đến “đạo đức của cộng sản” là gì khi phó chủ tịch quốc hội của nhà nước Việt cộng đã lên tiếng cách đây gần 10 năm (2006) là: "người ta phải nói dối nhau mà sống vì đó là đạo đức của cách mạng (Việt cộng)” - Trần Quốc Thuận. 

Về giáo dục và văn hóa. Quả thật là người ta không thể phân định được là nên giáo dục văn hóa của nhà nước CS định vị trên căn bản nào. Chỉ thấy từ tối tới sáng nhà nước ra rả bài loa “học tập theo gương vĩ đại của Hồ Chí Minh”, nhưng họ lại cũng không chỉ dẫn ra những cái vĩ đại của HCM là những cái nào. Thí dụ như gương giết vợ từ con, hay là việc lệnh cho Trường Chinh viết lời kêu gọi đồng bào Việt Nam bỏ chữ Quốc Ngữ học chữ Tàu để được nhận làm chư hầu cho Trung cộng, hay học tập theo gương HCM hoan hô PVĐ ký công hàm công nhận Trường Sa Hoang Sa là máu thịt của Việt Nam thuộc chủ quyền của Trung cộng. Kết quả của cái nền giáo dục vô văn hóa, vô tổ quốc, vô gia đình, vô tôn giáo ấy là:
Thứ nhất. Người em cô cậu của ba tôi vào miền Nam thăm anh vào tháng 8-1975, khi thấy anh em chúng tôi để giày dép và quần áo phơi ngập trên sân thì cô tự động đi ra và gom nhặt từng cái một đem vào để trong nhà. Thấy lạ các em tôi hỏi. Cô bảo: "Liệu đấy, không còn lấy một cái mà mặc, mà xỏ chân!”. Nghe thế, anh em tôi nhìn nhau cười. Nay thì trộm cướp ở miền Nam đã sánh ngang bằng với miền Bắc vào năm 1975 rồi! Ở đâu cũng thấy thành phần này. Từ phố xá cho đến các công sở cơ quan, từ trung ương cho đến địa phương, không một nơi nào mà không dầy đặc sâu dân mọt nước. Kế đến, những tội đại nghịch theo gương HCM "căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ" thì xã hội ngày nay đã đến mức khủng hoảng vì những loại tội đại ác, con cái giết cha mẹ, cháu giết ông bà. Vợ chồng giết nhau vì cơn ghen. Nhân tình giết nhau vì cái xe, cái điện thoại của đối tác. Hoặc giả, khi chấm dứt quan hệ cho một cuộc tình, đối tác cũng có thể mất mạng! Và kinh hoàng hơn nữa là nạn phá thai ở lớp tuổi thanh thiếu niên đã làm chóng mặt mọi gia đình. Quả thật, nhờ “đạo đức” HCM, nhờ cái Cờ Đỏ mà trong suốt tiến trình lịch sử gần 5000 năm của đất nước, chưa có thời nào mà những loại tội đại ác lại hoành hành và đe dọa xã hội như thời CS. Phục chưa nào?
Kế đến là phần đất đai của tổ quốc thì nào có phải chỉ Hoàng Sa, Trường Sa ở biển đông mất vào tay Tàu Cộng. Ngay đến đất liền, Nam Quan, Bản Dốc, Lão Sơn, Tục Lãm… nay đã mang tên xứ người. Lại còn Tân Rai, Nông Cơ và biết bao nhiêu là đất đai, cửa biển trong nội địa của Việt Nam đã nằm trong vòng tay kiểm soát của Tàu? 
   Về đời sống chính trị. Người dân miền Nam Việt Nam ngày nay còn lại đôi tay trắng. Tự Do, Nhân Quyền, Công Lý mất sạch sẽ, chỉ còn lại là những hàng chữ vô cảm để nhìn cho đẹp mắt. Đến chữ Độc Lập mới là một nỗi nhục khác. Người dân muốn bảo vệ chủ quyền của đất nước trên Hoàng Sa Trường Sa là vào nhà tù. Thử hỏi xem, liệu còn một nỗi tủi nhục nào lớn hơn khi phải cầm tấm hộ chiếu của CHXHCN Việt Nam do Việt cộng cấp phát, còn nỗi nhục nào lớn hơn cho người dân Việt phải đứng dưới lá Cờ Đỏ của CS Phúc Kiến và bảo đó là của mình? Tôi cho rằng, không còn nỗi nhục nào to lớn như thế nữa. Từ đó, chả cần phải nhắc nhở, lá Cờ Vàng tuyệt đối chiếm trọn tim lòng người Việt Nam. Họ mong chờ từng giây, tùng phút cho ngày Cờ Vàng về trên quê hương Việt Nam. Dẫu cuộc chờ đợi ấy là trăm năm!

   2. Với những người sống trên đất Bắc

Nếu người ở miền Nam có được một chút kinh nghiệm về CS như hôm nay, thì cái kinh nghiệm của họ về cộng sản so với người miền Bắc chỉ là con số không, hoặc là con đom đóm lập loè trước ngọn đèn sáng, không đáng để nói đến. Bởi vì, niềm đau của họ không phải chỉ là tiếc nuối vì chậm chân trong cuộc di cư 1954, nhưng là sự kiện, tất cả mọi người ở ngoài Bắc đều đã bị dồn vào cõi chết và bị xô đẩy vào cuộc sống đầy gian trá. 
Thật vậy, vào mùa đấu tố 1953-56, không một người nào trên đất Bắc không sờ thấy cái chết ngay bên mình. Tất cả đều thoi thóp sống trong lo sợ và chờ cái chết gọi tên. Trong cảnh khốn cùng đó, đã có gần 200 ngàn người Việt Nam tại miền Bắc bị HCM gọi tên. Sau những cái chết vì bạo hành và hàng trăm ngàn gia đình bị ly tán là toàn thể nhân dân miền Bắc chỉ còn lại đôi mắt trắng. Tất cả mọi thứ tài sản, từ ruộng vườn đất đai đến cơ sở làm ăn đểu thuộc về tay nhà nước quản lý. “Nỗi đau về vật chất ấy, thật chẳng thấm gì”, cô tôi bảo thế. Bởi vì, người ta đã phải đánh đổi phần luân thường đạo lý xã hội, phần lễ nghĩa nhân phẩm của con người bằng những gian trá, vu khống giết người theo bài học "địa chủ ác ghê" của HCM để tìm sống cho cá nhân mình. Người người, không phân biệt già trẻ, gái trai, đều phải học tập lấy phương cách nói dối nhau, lừa nhau mà sống. Ở đó, Công Lý của chế độ được thực thi bằng lệnh của cái búa, cái liềm trong tay những nhà cách mạng chưa biết mặc quần. Ở đó, Cờ Đỏ đã dạy cho người dân bài học căm thù giữa con người với con người. Ở đó, Cờ Đỏ dạy cho người dân bội tín bội nghĩa, bằng sự rình rập báo cáo lẫn nhau. Ở đó, CS đã dạy cho những đứa con “căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ” vì bác đảng. Đến nỗi người cha phải trả lời đứa con do mình đẻ ra: “ông có biết tôi là ai không? người cha ngậm ngùi trước nhìn đứa con dứt ruột do mình đẻ ra và nói”: “Thưa bà, con là người đẻ ra bà ạ!” (chứng từ của một Giám Mục, trang 383). Hỡi ôi, xã hội Cờ Đỏ!
Kết quả của những bài học này dần dần là sự kiện tái quy. Người dân đâm ra căm thù cộng sản, thù ghét Tầu khựa. Nhiều người dù chưa một lần nhìn thấy là cờ và cuộc sống của người miền Nam ra sao, chỉ nghe đồn về nó, nhưng đã hằng đêm khấn nguyện, ước mong một ngày được nhìn thấy đoàn quân cứu nước ở miền Nam ra giải phóng cho đồng bào. Khi ấy, chắc hẳn là búa trả búa, liềm trả liềm cho cán bộ đảng viên nhà nước? Lại cũng có người trong cơn đau cùng quẫn, đứng giữa đường, trước cổng quan cán mà gào trời, van đất xập xuống để cùng chết chung với cái Cờ Đỏ hơn là phải sống trong những ngày tăm tối với nó. Những ước mơ này đến nay vẫn chưa hề thay đổi, dẫu chính phủ ở miền Nam không còn! Điều đó cho thấy, chính Cờ Đỏ dạy cho dân chúng mơ ước được nhìn thấy và sống với niềm tin của Cờ Vàng là cờ mang biểu tượng của Tự Do Dân Chủ Nhân Quyền và Công Lý, là niềm tin, là sự sống của đất nước. 

3. Với những người lớn lên sau mùa đấu tố hay sau ngày 30-4-1975

Một điều không may mắn cho những thế hệ này là đã không được hưởng lấy một giờ, một phút trong cuộc sống của Tự Do Nhân Bản. Một điều tang thương hơn thế là họ đã lớn lên trong cuộc sống mà chế độ đang ra sức tận diệt niềm tin của con người với con người, của con người với tôn giáo. Và trong tận cùng của sự tệ hại là những thế hệ này đã không được hưởng lấy đôi phần nền giáo dục nhân bản và văn hóa của dân tộc. Thay vào đó là họ phải dùi mài một thứ văn hóa nô lệ, bá đạo, phỉ báng công sức tiền nhân, của tôn giáo và ca tụng kẻ thù của dân tộc. Và có thể, họ đang bị nhồi nhét một thứ văn hóa man rợ là nhận giặc là cha (Hồ chí Minh không chắc là người Việt Nam, nhưng là một Cù thị trong kế hoạch Hán hóa của TC?) Với lối giáo dục này, Cs đã làm băng hoại lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam và tệ hơn, nhằm đưa Việt Nam vào vòng nô lệ cho Trung cộng.
Đó là sự thiệt thòi lớn lao cho họ. Tuy nhiên, trí năng của con người không phải như trí năng của loài khỉ đột, bị đóng khung trong những giáo điều gian trá. Trái lại, với những phương tiện truyền tải từ thông tin, dù là thông tin của công sản, đến những câu chuyện trong cuộc sống hằng ngày đã đưa lớp trẻ Việt Nam vào một suy tư, vào một cái nhìn khác với những điều mà cộng sản muốn. Nghĩa là, lớp người trẻ này đã nhận ra được sự thật. Họ đã bị lừa dối, dân tộc này đã bị cộng sản phản bội. Từ đó, họ tìm ra sự thật.

a. Về con người
CS không ngừng truyền dạy lớp trẻ về Hồ Chí Minh là “ bác” không có vợ, suốt đời hy sinh vì dân vì nước”. Với họ, đây có thể coi là một chuyện cười thô bỉ nhất thế giới mà CS VN tiếp tục truyền vào học đường hay trong phong cách giáo dục cho học viên CS. Gọi nó là chuyện cười thô bỉ, bởi vì Hồ Chí Minh, không những chỉ có một, nhưng là có nhiều đời vợ, với đầy đủ giấy tờ cá nhân đã được phơi bày.  

Tại sao lại phải dối trá như thế? 
 Câu hỏi ngắn, chuyện chở một ý nghĩa dài. Riêng trường hợp của Nông Thị Xuân, thì không có giấy tờ chứng nhận Xuân là vợ của Hồ Chí Minh. Nhưng trong trường hợp này thì Hồ Chí Minh (Hồ Quang) lại phạm vào tội đại ác. Đã hiếp Nông Thị Xuân ngay từ khi em 16 tuổi, đến khi em sinh con thì từ con và giết Nông Thị Xuân, quẳng xác ra ngoài đường giả làm tai nạn lưu thông để bảo vệ tên tuổi cho Y. Sự kiện tội ác, không phải là việc Y ăn ở với người khác phái, dù không cưới hỏi. Hoặc làm “vua” thì có năm thê bảy thiếp nhỏ tuổi. Nhưng sự ác là việc giết người cách man rợ và quăng xác ra ngoài đường để tạo hiện trường giả là một tai nạn lưu thông để bảo vệ cho cái sự kiện gian trá là “bác không có vợ” của HCM. Quả là một chuyện man rợ cổ kim chưa từng có. 

b. Về bài học phản luân lý: 
"phải căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ". (Đèn Cù tr 74), được coi là kim chỉ nam trong đào tạo các đoàn đảng viên CS, lớp trẻ ngày nay cho rằng: Bài học này, người trước nhất phải áp dụng là Vũ Trung còn gọi là Nguyễn Tất Trung, con đẻ của Hồ Chí Minh và Nông Thị Xuân. Trung phải ngậm đắng một đời thù hận Hồ Chí Minh vì cái chết của người mẹ là Nông Thị Xuân, và không thể thanh minh cho mẹ dù là một câu? Và bản thân Hồ Chí Minh thì trong suốt một đời cũng đã thực hiện bài kiểm thảo này một cách trọn vẹn. Y không hề đốt cho cha mẹ một nén nhang! Lời thề “căm thù bố mẹ, đoạn tuyệt với bố mẹ” của HCM đúng vào cả hai trường hợp, dù cha mẹ Y là người ở làng Kim Liên hay là ở bên Tàu! Thử hỏi, với cái thứ “đạo đức” phản luân lý này được cộng sản đem vào học đường, tuổi trẻ và xã hội Việt Nam đi về đâu? May là lớp trẻ ở đây đã được di truyền nền tảng đời sống luân lý từ gia đình, từ tôn giáo, theo đó, hầu như chỉ có một số rất ít, khoảng 5% dân số học theo thứ luân lý không có quần này mà thôi. 

c. Về việc gọi là cứu nước: 
 Nay thì mọi chuyện dối trá của CS đã bị những thế hệ trẻ này phơi bày ra trước bàn dân thiên hạ. Theo họ, tập đoàn CS Minh, Đồng, Chinh, Duẩn, Giáp… luôn cho mình là những kẻ “đánh Mỹ” cứu nước, thật ra, đây chỉ là một tập đoàn đánh thuê, nhân danh Trung cộng giết người Việt Nam cho Trung cộng mở rộng bờ cõi về phương Nam mà thôi. Bằng chứng là, bản thân Hồ Chí Minh là thiếu tá Hồ Quang, (người Tàu?) đảng viên đảng cộng sản Trung cộng, tùng sự tại bát lộ quân của Chu Đức trước khi xâm nhập vào đảng CSVN. Kế đến Trường Chinh thì kêu gọi người Việt Nam học tiếng Tàu, dùng thuốc tàu để được làm chư hầu cho Trung Cộng. Phần Lê Duẩn thì hãnh diện tuyên bố để lập công trước mặt Mao là: “Cuộc chiến này là ta đánh cho Trung Cộng và Liên Xô”. Và “tất cả mọi việc của chúng tôi làm là tùy thuộc vào Mao chủ tịch”, Phần PVĐ thì đã sớm ký giao Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam cho Trung Cộng từ 1958. Đến Tố Hữu thì nổi danh với bài thơ “bên đây biên giới là Tàu (nhà), bên kia biên giới cũng là Trung Hoa (quê hương)!” nên Biển Đông, Nam Quan, Bản Giốc, Lão Sơn, Tục Lãm chỉ còn là bóng mờ nhớ thương trong lòng người Việt, phần thực tế là quê hương của Tàu cộng theo đúng chủ trương của HCM.! 

Với những bài học từ Cờ Đỏ như thế, dù chưa nói ra, ai cũng biết Cờ Đỏ không có đất sống trong lòng những thế hệ trẻ hôm nay. Nó chết vì sự vay mượn từ bên Tàu. Nó chết vì đã gây ra quá nhiều tội ác. Và nó chết vì sự gian trá, và bội phản của nó. Theo đó, việc giải thế nó, xé bỏ nó chỉ còn là thời gian. Bởi vì, tuổi trẻ Việt Nam hôm nay đã lên đường để tìm đến khát vọng của dân tộc. Ngày nay, không một người Việt Nam nào không khao khát đời sống Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Công Lý và sự Độc Lập của tổ quốc. Sự khát vọng này đã xướng khởi, đã là những nguyên do bùng phát những cuộc tránh đấu tại Việt Nam. Những cuộc tranh đấu tuy còn giới hạn trong phạm vi nhỏ, hay nhiều khi mang tình cá nhân, nhưng nó đã có sẵn và đầy đủ những tố chất cần thiết cho một bước đi toàn diện và quyết liệt. Một bước đi quyết liệt sẽ làm thay đổi toàn cảnh Việt Nam trong tương lai. Thử hỏi, khi người Việt Nam cùng đứng lên xé bỏ Cờ Đỏ, màu cờ nào sẽ là Linh Hồn cho một ước nguyện của dân tộc? 

Tôi cho rằng đó là Màu Cờ của Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Công Lý và Độc Lập Dân Tộc. Đó là Lá Cờ đánh đuổi ngoại xâm đã có từ thời Hai bà Trưng. Đất nước này, dân tộc này còn tồn tại là do màu cờ Chính Nghĩa này đã khởi xướng và lưu truyền lại cho con cháu qua nhiều triều đại. Đó là Lá Cờ truyền thống của dân tộc mà người Miền Nam đã kéo lên lễ đài “dinh Toàn Quyền” để chấm dứt cuộc đô hộ của thực dân Pháp. Đó là Màu Cờ mà chính phủ miền Nam đã kéo lên để mở đường cho hơn một triệu người miền Bắc trốn chạy cộng sản, di cư vào Nam, xây dựng đời sống vào năm 1954. Đó là Màu Cờ đã phủ lên mình Ngụy văn Thà và đồng bạn của anh, những người chiến binh đã hy sinh vì tổ quốc trong cuộc chiến Hoàng Sa đánh đuổi quân xâm lăng Trung cộng. Đó là Màu Cờ Vàng mà ngày nay vẫn ngạo nghễ tung bay, khoe sắc trên bầu trời thế giới. Đó là Màu Cờ ở trong tim lòng ngươi dân Việt Nam.

III. Ai và những ai chiến đấu cho Cờ Đỏ, Cờ Vàng? (P.2)

1.2.15