Friday, February 27, 2015

Màu Cờ: Biểu Tượng và Niềm Tin (P.2)

- Lịch sử của một dân tộc là sự kết hợp từ những cung nhạc trầm bổng, suy thịnh nối tiếp nhau. Sau ngày Việt Minh cướp được chính quyền tại miền Bắc và sau hiệp định Genève 20-7-1954, Việt Nam bị chia đôi, dòng sông Bến Hải tạm thời được coi là lằn ranh chia đôi đất nước. Bầu trời Việt Nam lần đầu tiên có hai màu cờ, có hai chính phủ với hai thể chế khác biệt và xung khắc nhau.   Cuộc chia đôi đất nước với hai chế độ xung khắc nhau đã tạo nên một cuộc di cư vĩ đại nhất trong lịch sử của dân tộc. Số lượng người trốn chạy chế độ cộng sản vào năm 1954 lên đến hàng triệu người. Hàng hàng, lớp lớp người bỏ lại phần quê hương ở phía sau mà đi. Gánh hành trang của họ mang trên vai không phải là nhà cửa ruộng vườn, nhưng là trọn vẹn nền văn hóa nhân bản và luân thường đạo lý của dân tộc. Rồi họ dựng lều, xây nhà ở phần đất miền nam với hoài bão bảo về trọn vẹn phần đất còn lại của tiền nhân. Bảo toàn và phát triển nền văn hóa nhân bản của dân tộc, chờ ngày về xây dựng lại miền đất, nơi họ phải bỏ ra đi ngày nào.
    Tiếc rằng, việc mọi người chung sức xây dựng và kiến tạo một nhà Việt Nam phồn vinh tại miền Nam và đưa màu cờ Tự Do, Dân Chủ, Nhân Quyền, Độc Lập của Việt Nam vươn lên vùng trời thế giới, lại rơi vào lòng căm thù của những đôi mắt đỏ của tập đoàn CS. Từ đó, Việt cộng dưới sự lãnh đạo của HCM, không ngừng xua quân tràn vào, tạo nên cảnh máu đổ thịt rơi. Hàng vạn nhà ra tro, hàng triệu người đã mất cuộc sống chỉ vì những cái đầu không tim óc của những kẻ tự mặc cho mình cái áo thụng cách mạng, nhưng không có quần như đứa bé kéo lê cái lá Cờ Đỏ trong cuộc đấu tố là truyền thống, là lịch sử là văn hóa của họ. Kết quả. một kết quả tang thương trong nốt nhạc trầm của đất nước. Cộng sản đã cướp được chính quyền ở miền nam Việt Nam bằng súng đạn của Nga Tàu vào ngày 30-4-1975. Và người Việt Nam lại vội vã băng biển khơi mà đi.

Ở đây, tôi xin mở một dấu ngoặc, giải thích cho chính xác từ “Cướp” mà tôi dùng trong trường hợp CS Cướp Chính Quyền của Việt Nam vào hai thời kỳ, sau chiến tranh Đông Dương vào ngày 02-9-1945 tại miền Bắc. Và sau chiến tranh gọi là “chống Mỹ cứu nước” vào ngày 30-4-1975. Tôi gọi là Cướp bởi vì: Theo tinh thẩn của bản Hiến Chương Đại Tây Dương 1941 và Hiến Chương Liên Hiệp Quốc 1945 quyết định: Trong 4 năm từ 1945 đến 1949. Các đế quốc Tây Phương bao gồm Hoa Kỳ, Anh Pháp, Hòa Lan sẽ lần lượt tự giải thể và trao trả Độc Lập cho 12 thuộc địa tại khu vực Á Châu, trong đó có việc trao trả Độc Lập cho các nước Đông Dương do Pháp thực hiện vào năm 1949. Theo tinh thần này, Việt Nam hoàn toàn thu hồi lại chủ quyền Quốc Gia theo Hiệp Định Elysée do chính tay Tổng Thống Pháp Vincent Auriol ký ngày 8 tháng 3, 1949. Cũng theo tinh thần của Hiệp Định Elysée, tất cả các hiệp ước về thuộc địa và bảo hộ được ký kết với pháp trước kia, từ hậu bán thể kỷ 19 đã bị Hiệp Định Elysée hủy bỏ hoàn toàn. 

Theo đó cuộc chiến gọi là dành Độc Lập từ 1946 đến năm 1954 thực ra chỉ là cuộc chiến do CS chủ trương để cướp chính quyền tại miền bắc do CS Trung cộng trực tiếp chỉ đạo. Nó, xét cho cùng, chỉ có một tác dụng, một giá trị duy nhất sau cái chết của hàng triệu người là nước Việt Nam bị chia ra làm hai và CS chiếm được độc quyền lãnh đạo ở miền Bắc và mở rộng biên cương về phía Nam cho CS mà thôi. Ngoài ra, nó không có một chút ý nghĩa nào khác để được gọi là chiến tranh dành Độc Lập cho Việt Nam. Bởi lẽ, vào năm 1949 Việt Nam đã hoàn toàn thu hồi chủ quyền vào ngày 8-3-1949. 

Kế đến là việc tập đoàn CS gây ra chiến tranh tang tóc tại miền nam. Đây là cuộc chiến tranh phi nghĩa. Cộng sản dựng chiêu bài "đánh Mỹ cứu nước" để “thống nhất” tổ quốc chỉ là cái bánh vẽ để lừa bịp và đẩy đồng bào miền Bắc, những người vừa khốn khổ thoát chết sau cuộc đấu tố kinh hoàng, nay không nơi nương tựa, đành phải bước vào cuộc chiến mù lòa do CS tạo ra. Gọi đây là cuộc chiến phi tranh phi nghĩa, lừa bịp những người đang trong cuộc khủng hoảng sau cuộc đấu tố và đẩy họ vào chiến tranh để CS cướp chính quyền ở miền Nam là vì: Trong thực tế, Việt Nam đã hoàn toàn được thống nhất vào ngày 23-4-1949, là ngày Quốc Hội Nam Kỳ biểu quyết giải tán chế độ Nam Kỳ tự trị để sát nhật Nam Phần vào lãnh thổ Quốc Gia Việt Nam theo tinh thần hiệp định Elysée với 45 phiếu thuận và 6 phiếu chống. Như thế, Việt cộng không có công cán gì trong việc dành Độc Lập và Thống nhất đất nước vào năm 1945 và 1975. Có chăng chúng tạo ra chiến tranh để Việt Nam bị chia ra làm hai, rồi lại tiếp tục điên cuồng theo đuổi chiến tranh để cướp nốt phần còn lại.

Nên khi viết về việc Thống Nhất và Độc Lập của Việt Nam, Ls Lê Hữu Thống đã thẳng thắn nhận định rằng: “Đảng Cộng Sản đã phủ nhận nền độc lập này và đã phá hoại nền thống nhất này. Vì Hiệp Định Elysée không cho họ độc quyền lãnh đạo quốc gia. Do đó họ vẫn tiếp tục chiến đấu võ trang và đã ký Hiệp Định Genève chia đôi đất nước để cướp chính quyền tại Miền Bắc năm l954. Và rồi, với sự yểm trợ của Quốc Tế Cộng Sản, họ lại tiếp tục chiến đấu võ trang để thôn tính Miền Nam năm l975. “vì Trung thành với chủ nghĩa Quốc Tế Vô Sản, Đảng Cộng Sản Đông Dương phủ định chủ nghĩa dân tộc. Họ không chủ trương đấu tranh giành độc lập… Lịch sử đã chứng minh rằng Đảng Cộng Sản chỉ sử dụng cuộc đấu tranh giành độc lập như một chiêu bài, một chiến thuật để đạt mục tiêu chiến lược là Cướp Chính Quyền. Họ đã chống đối và phá hoại bất cứ giải pháp độc lập nào không cho họ độc quyền lãnh đạo quốc gia.” ( Ls Nguyễn Hữu Thống, Duyệt lại sự thật lịch sử),) 

Tuy nhiên, sau bốn mươi năm cướp được chính quyền trên toàn cõi Việt Nam, CS với nhiều sách lược bá đạo, ngu dân, ngu cán, vẫn không thể giải thể được hình bóng lá Cờ Vàng là biểu tượng cho tinh thần Tự Do, Độc Lập, Nhân Bản ở trong lòng người Việt Nam. Kết quả, Cờ Vàng tuy tạm mất dấu trên đất Việt, nhưng đã cùng với bước chân của những người tỵ nạn, ngạo nghễ tung bay trên bầu trời thế giới. Cờ Vàng từ Đại Dương vươn lên, không chỉ là niềm tin, là sức mạnh của người Việt Nam vượt qua cái chết và ngục tù của cộng sản để đi lên. Nhưng còn là một động lực, một tiếng nói mãnh liệt giúp cho thế giới chuyển minh, đặc biệt là các quốc gia đang bị CS chiếm đóng quật khởi, phá vở bức tường Bá Linh, làm sụp đổ chế độ cộng sản tại Liên sô, giải phóng 1/3 thế giới khỏi ách cộng sản (1989). Tại sao Cờ Vàng có chỗ đứng như hôm nay và trở thanh biểu tượng Tự Do Dân Chủ, Nhân Quyền Công Lý, cho mọi người cùng tìm về? Và ai đã chiến đấu cho Cờ Đỏ? Ai vì Cờ Vàng?

A. Ai và những ai chiến đấu cho Cờ Đỏ, giết chết Độc Lập, Tự Do của dân Việt?

1. Li Jishen 

Chairman of the People's Government (at Fuzhou) 
21 Nov 1933 - 21 Jan 1934 Li Jishen (b. 1884 - d. 1959) (*)


Người đầu tiên được kể đến như là người sống chết với Cờ Đỏ là Li Jishen (Lý Kỳ Thân). Li Jishen là người sáng lập và lãnh đạo phong trào CS tại Phúc Kiến, lấy Cờ Đỏ sao vàng là biểu tượng cho cuộc tranh dấu của đảng CS Phúc Kiến vào khoảng 11.1933 đến 1.1934. Sau cuộc nổi dậy ở Phúc Châu, Phúc Kiến, bị phe Tưởng giới Thạch dẹp tan, Li JiShen đem tàn quân xát nhập vào với Mao Trạch Đông. Sau này Lý làm phó chủ tịch nhà nước Trung cộng vào năm 1949. Lá cờ này không còn được sử dụng kể từ khi Lý sát nhập quân đội tan rã của mình vào với phe Mao trạch Đông. Nhưng xem ra màu cờ này mãi còn ở trong lòng những đảng viên CS Phúc Kiến và Lý kỳ Thân. Bởi vì, nó đã giúp Trung cộng toại nguyện vượt biên giới để xuôi nam. Khi Li- Mao thấy lá cờ này phe phẩy trên đất nước Việt Nam chẳng khác gì nơi quê nhà Phúc Kiến. Hơn thế, nơi đó sẽ còn là nơi để càng lúc càng có nhiều người Tàu đổ bộ sang bên kia biên giới… mới để xây dựng cơ nghiệp. Những di dân, lúc đầu là bất hợp pháp này sẽ khoanh vùng và thành những căn cứ an toàn cho một bước “nhảy vọt” trong mưu đồ thôn tính nam bang mà không phải đổ quá nhiều máu xương như cho ông họ đã làm và đã thất bại. Hơn thế, từ bên kia, dân an nam đã được CS dạy cho nằm lòng bài ca như câu ca dao từ cửa miệng mọi người là: "Bên đây biên giới là Tàu (nhà) , bên kia biên giới cũng là Trung Hoa (quê hương)” (Tố Hữu) lẽ nào ta không thắng? 

2. Hồ chí Minh, (---1969) tên là Hồ Quang, đảng viên đảng cộng sản Trung Cộng, Thiếu tá trong quân đội giái phóng nhân dân Trung cộng, chủ tịch đảng cộng sản Đông Dương, chủ tịch đảng cộng sản VN, chủ tịch nhà nước VNDCCH. 

Trước tiên, tôi không để năm sinh của HCM vì CS chưa DNA để chứng thực cái xác trong lồng kiếng kia là của HCM sinh 1901? Nó có quá nhiều hoài nghi nên tôi không đề năm sinh. Tuy nhiên, theo hồ sơ còn lưu trữ trong Quân Ủy Trung Ương Trung Cộng, Hồ Chí Minh là Hồ Quang, thiếu tá quân đội nhân dân, đảng viên đảng cộng sản Trung cộng, phục vụ ngành điện báo thuộc bát lộ quân của Chu Đức. Y được lệnh xâm nhập vào lãnh thổ và thành lập đảng cộng sản Việt Nam sau khi được tin Nguyễn Tất Thành (Ái Quốc) đã chết về bệnh lao trên đường đến Liên Xô?. Y đã mang lá cờ của CS Phúc Kiến vào Việt Nam trong khoảng 1940. Theo Võ Nguyên Giáp, "Phiên bản lá cờ này do HCM mang về từ nước ngoài và được chính thức treo lên cửa hang Pắc Bó vào ngày 19-5-1941”. Sau đó, Hồ Quang trở về Trung quốc. Trên đường về, Y bị quân của Tưởng giới Thạch bắt. Vì sợ bị lộ tông tích là Hồ Quang, Y đã khai là người Việt, tên Hồ Chí Minh. 

Với lý lịch này, tôi cho rằng HCM suốt quãng đời, từ 1940-1969 đã hết lòng hết sức để phục vụ cho Cờ Đỏ. Bề ngoài, với danh nghĩa cho Việt Nam, nhưng thực chất, y không phục vụ cho quyền lợi của dân tộc và tổ quốc Việt Nam, nhưng vì quyền lợi của Trung cộng. Nói cách khác, Y xâm nhập hàng ngũ CSĐD với mưu đồ cướp chính quyền tại Việt Nam và Miên, Lào để mở đường cho Trung cộng tràn xuống phương nam. Đó là lý do tại sao. Trung cộng hỗ trợ toàn diện cho HCM trong cuộc chiến chống Pháp và Quốc Gia Việt Nam từ 1946-1954, để rồi đất nước Việt Nam bị chia đôi vào ngày 20-7-1954. với khoảng một triệu người Việt hy sinh. Sau đó mở cuộc chiến vào Nam và kết thúc vào ngày 30-4-1975 với khoảng hơn hai triệu người mất cuộc sống. HCM đã thỏa nguyện ước chiến đấu cho màu Cờ Đỏ của Phúc Kiến để cướp lấy, không những chính quyền mà còn cả giang sơn Việt Nam cho Trung cộng. 

3. Đặng Xuân Khu (1907-1988) TBT đảng CSĐD tiền thân đảng CSVN

Có thể Đặng Xuân Khu biết rất rõ xuất xứ của lá cờ cũng như lý lịch bản thân và chủ trương của Hồ chí Minh, vì Khu đã có nhiều thời gian hoạt động đi lại trên đất Trung Hoa. Ngay cái bút danh của Khu là Trường Chinh đã nói lên tấm lòng thờ Tầu cua Khu. Hơn thế, khi trốn bản án tử hình của hội đồng đề hình Pháp vào năm 1943, y cần một chỗ nương tựa chắc chắn. Theo đó việc y thờ Tàu là dễ hiểu. Dĩ nhiên y có thể theo gương những kẻ bán nước đi thờ Tàu, nhưng khi phò Tàu, Y đã nhân danh TBT đảng CSĐD, viết lời kêu gọi đồng bào Việt Nam bỏ chữ quốc ngữ để học chữ Tàu, và uống thuốc Tàu để xin được làm chư hầu cho Trung cộng như y, là một việc làm thô bỉ, đáng khinh. Đây là bản văn đầy ô nhục cho đảng CSVN. Tuy nhiên, Khu lại được đảng CS đánh giá là lý thuyết gia hàng đầu của đảng, là niềm kiêu hãnh vô biên của cộng sản VN! Khu viết:

Việt Minh Vận Động cho Việt Nam làm Chư Hầu Trung Quốc

ỦY BAN HÀNH CHÁNH KHÁNG CHIẾN VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

…đồng bào của ta nên loại hẳn cách viết theo lối âu tây ấy - một cách viết rõ ràng có mau thật đấy - và ta hãy trở về với thứ chữ của ông bà ta ngày trước, là thứ chữ nho của Trung Quốc...

Vả chăng, người Trung Hoa, bạn của ta - mà có lẽ là thầy của chúng ta nữa, ta không hổ thẹn mà nhìn nhận như thế.

Ta hãy bỏ nhà bảo sinh của chúng, bỏ bệnh viện của chúng, ta hãy dùng thuốc dán của ông cha ta để lại và nhất là dùng thuốc Tàu danh tiếng khắp cả hoàn cầu. Ta hãy trở về phương pháp này, trước nữa để ủng hộ các bạn Trung Hoa, sau nữa để loại ra khỏi nước Việt Nam yêu mến của ta bao nhiêu những đồ nhập cảng thực dân như là khoa học, phát minh v.v... TBT Trường Chinh. (1951)

4. Lê Duẩn

Khi Đặng Xuân Khu còn chạy đà theo chủ trương của Tàu, Lê Duẩn không có tư cách gì để chen chân vào cuộc tranh đua với Minh-Chinh. Tuy nhiên, sự tàn bạo, vô nhân của mùa đấu tố đã gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng trong cuộc sống của dân chúng VN, nên dù không muốn, TC đành phải tạm hy sinh Khu và giữ lại Hồ Quang trong vai chủ tịch nhà nước, chủ tịch đảng CSVN. Đó chính là cơ hội tốt nhất để Lê Quẩn uốn mình, quỳ gối xuống thờ Tàu. Xem ra việc làm của Duẩn còn tệ hơn cả Lê Chiêu Thống. Trong cuộc họp với Mao Trạch Đông hồi năm 1970. Duẩn xác định, trước mặt Mao: "Tại sao chúng tôi dám trường kỳ kháng chiến? Chủ yếu là vì chúng tôi phụ thuộc vào công việc của Mao Chủ tịch… Chúng tôi có thể tiếp tục chiến đấu, đó là vì Mao Chủ tịch”. Trong lần khác, Y lại tuyên bố: “Ta đánh Mỹ la đánh cho trung Quốc, cho Liên Xô”. Tiếc rằng những lời tuyên bố “hào hùng” của y đã không được đài phát thanh của Việt cộng truyền đi cho dân chúng cùng nghe. Và cho mãi đến hôm nay cũng không dám nhắc lại, dù chỉ một lần.

Kết quả, hơn hai triệu người Việt Nam từ Bắc đến Nam mất mạng sống vì cuộc chiến điên cuồng do tập đoàn Minh - Duẩn - Giáp - Thọ - Thanh - Dũng... thực hiện theo chủ trương mở rộng biên cương xuống phương Nam của Tàu cộng dưới chiêu bài “đánh Mỹ cứu nước”. Vào ngày 30-4-1975 với súng đạn dồi dào của Tàu, Liên Xô, CS đã cướp được, không phải chỉ có chính quyền của miền Nam, nhưng còn cướp được trọn vẹn tài sản phong phú, tiền rừng bạc bể của Việt Nam. Từ đây, cộng sản độc chiếm quyền chính trị bá đạo để tạo ra độc quyền chiếm đoạt mọi tài sản của đất nước vào túi riêng. Sau bốn mươi năm cướp được công quyền, dân tình một ngày một xơ xác điêu linh, xã hội ngày thêm băng hoại về luân lý, đạo đức. Cán cộng ngồi xổm trên công lý, triển nở thứ đạo đức bá đạo, tàn độc, trộm cướp, gian trá của HCM để tự tạo cho mình cảnh giàu sang lớn. Phần đất nước của tiền nhân thì tan hoang, hình thể không còn là một hình thể thuộc Việt Nam. Trái lại, thành những miếng vá da beo, da cọp thuộc Tàu nằm trong lòng đất Việt Nam.

5. Phạm Văn Đồng

Mở đầu cho chương trình da beo thuộc Tàu là Phạm Văn Đồng. Một trong số những “lãnh đạo” đã không thể có điểm nổi bật lên một vai trò như Hồ Chí Minh, Lê Duẩn hay Đặng Xuân Khu, nhưng y đã nhanh chóng đáp lời TC để làm một công việc thiên thu lưu xú là: Ký công hàm bán nước thế cho HCM. Chuyện ký Công Hàm bán nước này đã được Phạm Văn Đồng thực hiện sau khi Chu Ân Lai, thủ tướng Trung cộng công bố chủ quyền 12 hải lý trên quần đảo Trương Sa và Hoàng Sa của Việt Nam, là của Trung cộng. Đổi lại, y được giao cho cái chức thủ tướng (thái thú) suốt đời (cho đến khi bị mù). Đồng viết:

CHÍNH PHỦ NƯỚC VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ CÔNG NHẬN QUYẾT ĐỊNH VỀ HẢI PHẬN CỦA TRUNG-QUỐC

Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung-hoa, quyết định về hải phận của Trung-quốc.

Chính phủ nước Việt-nam dân chủ cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hòa nhân dân Trung-hoa trên mặt biển….

Hà Nội, ngày 14 tháng 9 năm 1958 PHẠM VĂN ĐỒNG”

6. Những kẻ chạy cờ: Giáp, Thanh, Dũng…

Chiến thắng Điện Biên, đẩy Giáp lên thành một tên tuổi lớn, đi đâu cũng vang dội tên tuổi đại tướng cầm quân… không giống như sau này là… “đại tướng cầm quần chị em”! Nay thì mọi việc lại phơi bày cách khác. Giáp luôn luôn ở cách xa trận địa mà không một hỏa lực pháo nào có thể bắn tới. Kế đến, Giáp chỉ là kẻ nhận lệnh trực tiếp từ những tướng Tàu nướng quân Việt như Trần Canh, La Qúy Ba mà thôi. Cuộc sống chết của người chiến binh VN không làm bận tâm viên tướng Tàu, Trần Canh, miễn là chúng đạt mục đích xuôi nam. Có thể Võ Nguyên Giáp cũng là một trong số những người biết rõ nguồn gốc của lá cờ tàu, cũng như biết rõ về lý lịch của Hồ Chí Minh, vì Giáp đã gặp Hồ Quang trước khi y xâm nhập vào Việt Nam. Giáp được đưa vào vị thế lớn là nhờ Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, Giáp cũng chỉ là một mắt xích đang làm nhiệm vụ cho TC như lời HCM công bố sau chiến dịch biên giới vào 1951 như sau: “Tôi cần nêu lên công lao đặc biệt của Trần Canh, Nhiệm Cùng, Vân Dật, Thiên Hựu, Quý Ba, Kiếm Anh, Phương Phương, Quốc Thanh và các đồng chí cố vấn trong chiến dịch. Tóm lại, tôi cho rằng thắng lợi này là thắng lợi của đường lối Mao Trạch Đông… “Cảm ơn các đồng chí”, phần các đồng chí Việt Nam và nhân dân chúng tôi sẽ nỗ lực hơn nữa giành lấy thắng lợi cuối cùng lớn hơn, lấy thành công để đền đáp sự kỳ vọng tha thiết và giúp đỡ to lớn của Đảng Cộng sản Trung Quốc...” (Nhật ký La Qúy Ba). Nào thấy công lao của Giáp đâu?

Với những thành tích như trên, tôi cho rằng, tập thể từ Minh (Hồ Quang), Khu, Duẩn Đồng, Giáp, Thọ... là những người đã cúc cung, tận tụy phục vụ cho lá cờ Phúc Kiến, dù mỗi người có một nét chui luồn và được giao nhiệm vụ khác nhau. Nhưng tất cả đã góp lại, tạo ra một dấu mốc rất “oanh liệt”. Tạo nên một danh phận, một nền văn hóa cho Cờ Đỏ mà tác giả theo "mây mù thế kỷ" (Bùi Tín) đã góp công tuyên truyền và hãnh diện nhắc đến là: "Tôi thấy lá Cờ Đỏ sao vàng đã có một thời oanh liệt, nó có một lịch sử hào hùng” (MMTK190). Qủa đúng như thế và sau đây là những điểm oanh liệt và một lịch sử hào hùng mà Bùi Tín góp công và ca tụng:

Thứ nhất: Nó oanh liệt vì đã tạo ra “thắng lợi long trời lở đất” với cái chết của gần 200 ngàn người thuộc thành phần dân tộc Việt Nam do tập đoàn này tạo ra trong mùa đấu tố và hàng trăm ngàn người khác mất nhà mất nghiệp hay phải bỏ mình vì cuộc chiến 1946-54 giúp tập đoàn này cướp và độc chiếm chính quyền ở miền Bắc theo Hiệp Định đình chiến tại Genève và chia nước Việt Nam ra làm hai. 

Kế đến là hai điểm "oanh liệt" khác giúp tạo nên danh phận, truyền thống, lịch sử hào hùng cho Cờ Đỏ để nó trở thành biểu tượng của sự chết, sự sợ hãi, sự kinh hoàng, của sự trộm cướp nhớn và bán nước, hại dân. Sở dĩ nó có lịch sử hào hùng này là vì bất cứ nơi đâu có Cờ Đỏ xuất hiện là nơi đó có máu của người dân Việt đứng ra bảo vệ Công Lý, bảo vệ nền luân lý, bảo vệ truyền thống đạo đức và nhân bản của xã hội, cũng như sự Độc Lập của Việt Nam tuôn chảy. Bất cứ nơi đâu có Cờ Đỏ xuất hiện là các đình chùa, miếu, đền… là biểu tượng của một nền văn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam bị Cờ Tầu đập phá cho bình địa. Và bất cứ nơi đâu có bóng dáng của lá cờ Phúc Kiến phe phẩy là nơi đó có đầy đủ những chứng liệu bán nước, là có đầy đủ những chứng liệu cướp đoạt tài sản của nhân dân hay chiếm cứ của công. Đó chính là những nét oanh liệt mà tác giả đi theo “mây mù” đã hãnh diện đề cao thành tích và phục vụ nó. Nó oanh liệt như thế nên ngoài cái Cờ Đỏ ấy ra, không một lá cờ nào khác có thể tạo ra được những biểu tượng “hào hùng” và “oanh liệt” như thế! Bằng chứng ư?

Hãy nhìn đến lớp sóng sau của tập đoàn CS là thấy được toàn bộ những điều tôi vừa viết. Nó hiển hiện ngay trước mắt mọi người, không cần chứng minh. Thử hỏi xem, chừng nào những Mười, Linh, Phiêu, Kiệt, Khải, Anh, Mạnh, Cầm... và những yêu tinh như Trọng, Sang, Dũng, Hùng, Phúc, Thanh, Hải, Lưu, Luận, Phúc, Rứa... sẽ trả lời một cách công khai cho người dân Việt Nam biết mật ước của Thành Đô gồm những điểm nào. Có phải những kẻ này đã vì quyền lợi của tập đoàn “oanh liệt”, nên đã theo gương Đặng Xuân Khu, van xin TC chấp nhận và ban cho CS Việt Nam một quy chế tự trị vào năm 2020 như lời đồn đãi hay không? Nếu không, tại sao không một kẻ nào dám công khai chuyện mật ước Thành Đô là cái gì? Rồi hãy hỏi những thành phân này xem Nam Quan Bản Giốc, Lão Sơn, Tục Làm giở thuộc về ai? Có phải bên đây là Tàu, bên kia cũng là Trung Hoa không? Rồi Đắc Nông, Tân Cơ, rừng đầu nguồn, Cửa Việt... bây giờ do ai kiểm soát? Trên toàn quốc Việt Nam hiện nay có bao nhiêu làng Tàu, với luật lệ Tàu, trường học Tàu, mà quan cán Việt Nam không còn được phép lai vãng đến? Rồi có bao nhiêu khu phố như Bình Dương? Bao nhiêu công trình lớn nhỏ nằm trong tay nhà thầu Trung cộng? Tại sao tất cả các tướng công an cũng như quân đội và các cấp mang quân hàm từ đại tá trở lên đều phải sang học tập ở bên Tàu trước khi được thăng cấp? Họ được gởi đi để trau dồi kiến thức chuyên môn hay học tập cho tốt đường lối của đảng hết lòng phục vụ cho chủ trương bành trướng, Hán hóa Việt Nam của Trung cộng? 

Hỏi nhiều rồi, ai trả lời đây? Theo đó, câu trả lời hay nhất cho dân chúng Việt Nam là hãy nhìn cái cúi gập người của Trương tấn Sang trước lá cờ Tàu, nhìn thái độ, lời nói của Trọng, Thanh, Dũng... và những kẻ mang lý lịch Tàu như Uông Chung Lưu, Hoàng Trung Hải... đã được cài, cắm vào những chức vụ then chốt của nhà nước và đảng cộng sản VN thì sẽ biết tập đoàn này phục vụ cho ai? Thử hỏi, một tập thể nhờ cái Cờ Đỏ của Phúc Kiến để vơ vét, cướp giật tất cả mọi tài sản của nhân dân Việt Nam, từ tinh thần cho đến vật chất cho đầy túi tham như thế, mà lại có thể gọi nó là oanh liệt và có một lịch sử hào hùng ư? 

Với tôi, tôi vẫn nhớ đến hình ảnh truyền thống oanh liệt, và lịch sử hào hùng của đứa bé cởi truồng, hai tay trịnh trọng cầm lá Cờ Đỏ đi quanh dấu trường đấu tố năm nào. Tấm ảnh có sức thuyết phục lớn. Vì sau cuộc đấu tố này, toàn bộ “Trí Phú Địa Hào” đã bị CS tiêu diệt, chỉ còn lại những nhà cách mạng nhớn nhỏ, đều cởi truồng nổi lên làm lịch sử mà thôi. Vời kiểu làm lịch sử ấy, dưới lá cờ ấy, dân tình không khốn đốn như hôm nay mới lạ. Tuy nhiên, nhìn tấm hình, bạn tôi bảo là, "thằng bé được cho ăn bánh, nó cầm cờ nhưng khi tung ra một nắm bánh kẹo khác, sẽ thấy nó quăng cả cờ đi, chạy ra mà tranh dành, vồ lấy bánh kẹo". Nay lời tiên tri ấy đã ứng nghiệm rồi. Xem ra chẳng có mấy kẻ trong số những là cách mạng Việt cộng sẽ sống và chết với cái Cờ Đỏ oanh liệt kia? Trái lạ đã có, và có rất nhiều những nhà cách mạng VC mồm thì bô bô sống chết với Cờ Đỏ oanh liệt và lịch sử hào hùng, nhưng chân thì đã nhanh hơn mồm, bồng con bế cháu, tìm cách cho chúng sang các nước bạn của Cờ Vàng mà mua nhà, mua đất, mua cơ sở để chờ... thời trốn! 

Tóm lại, sau khi cướp được Công quyền, tạo ra được thế cướp vững mạnh để chiếm hữu toàn bộ tài sản của tư nhân cũng như của công, mà không ai có thể cưởng chống lại được. CS đã nhân danh đảng, nhân danh chủ nghĩa CS, lợi dụng cái Cờ Đỏ để, trước là triệt hạ nhau, sau là triệt hạ nhân dân để độc chiếm lấy cái quyền cướp đoạt cho mình và cho phe nhóm của mình. Nghĩa là, ở trong lòng tập thể đứng dưới lá Cờ Đỏ này, vốn dĩ là không có gia đình, không có Tổ Quốc, không có tôn giáo, không có luân lý, không có dân tộc, nên nó cũng đồng nghĩa với không có sự sống, không có niềm tin. Biểu tượng của nó là sự chết, là tội ác và dối trá. Cuộc sống của nó là tạm bợ, tầm gũi, là cuộc sống lẩn tránh của bọn thổ phỉ sau khi phạm pháp. Tuy nhiên, không có gian dối nào có thể lẩn trốn Công Lý. Cộng sản và tội ác của nó cũng không có ngoại lệ.

(Còn tiếp)

2-2015