Monday, February 16, 2015

XIN HÃY GỌI BÁC HỒ LÀ TÊN “LỢN ĐẺ”

1
 
I. VÌ SAO ĐỪNG GỌI BÁC HỒ LÀ TÊN CHO ĐẺ:

Trong bài viết trước: “Xin đừng gọi Bác Hồ là tên chó đẻ”. Đúng vậy, vì bản chất lưu manh, gian ác, tàn bạo của một tên lãnh tụ thất học như HCM không thể nào đem so sánh được với “HACHIKO” mà Hachiko là ai mà vĩ đại vậy ta? Xin thưa với quý vị, Hachiko không phải là con người mà chỉ là một…chú chó.

Hachiko là một chú chó nhỏ lông trắng, nó chào đời vào tháng 11/1923 ở nông trại gần thành phố Odate, tỉnh Akita bên Nhật Bản. Năm 1924, Hidesaburo Ueno là giáo sư thuộc khoa Nông nghiệp trường Đại học Tokyo, ông đã mua Hachiko lúc vừa tròn 2 tháng tuổi. Và trong suốt khoảng thời gian sau đó, Hachiko và ông trở thành người bạn không thể tách rời. Mỗi buổi sáng, Hachiko theo tiễn ông tới tận nhà ga Shibuya, nơi ông đi tới làm việc và trở lại chờ đón ông tại đó vào lúc 3 giờ chiều, khi ông trở về trong cuối ngày.
     Nhưng, vào ngày định mệnh 21 tháng 5 năm 1925, giáo sư Ueno đột ngột qua đời vì một cơn đột quỵ khi đang đứng trên bục giảng của trường Đại học và mãi mãi không trở về đúng giờ như đã hẹn với Hachiko hay kịp nói một lời vĩnh biệt với nó. Khi Ueno qua đời, Hachiko linh cảm rằng có chuyện gì chẳng lành đã xảy ra. Tuy vậy, như thường lệ ngày hôm đó, nó vẫn đến nhà ga Shibuya vào đúng 3 giờ chiều để đón chủ nhân của mình. Dù thời điểm 3 giờ đã qua rất lâu, nhiều chuyến tàu lần lượt đi qua hay thậm chí đã tối khuya mà vẫn không thấy bóng giáo sư Ueno trở về, Hachiko vẫn không nãn lòng. Hàng ngày, nó vẫn đến nhà ga Shibuya đúng 3 giờ chiều để chờ đợi người chủ Ueno từ ngày nầy qua ngày khác.
  Chẳng bao lâu sau, những người xung quanh bắt đầu để ý tới sự chờ đợi vô vọng của Hachiko đối với người chủ nhân đã qua đời của mình. Lần lượt, từ người làm vườn trước đây của giáo sư Ueno, cho đến ông giám đốc nhà ga và những người trong vùng đã cho Hachiko ăn uống và thay phiên chăm sóc nó tử tế.
Câu chuyện về chú chó trung thành nhanh chóng được lan truyền khắp nơi, được coi như một tấm gương trong sáng về lòng trung thành. Người ta tìm đến ga Shobuya chỉ để được nhìn tận mặt Hachiko, cho nó ăn hoặc nhẹ nhàng xoa đầu nó để chúc phúc. Năm 1932, khi Hachiko đợi chủ nhân được 7 năm, một cựu sinh viên của GS Ueno đã trông thấy Hachiko và được nghe về câu chuyện cảm động về cuộc đời của chú. Sau đó, anh vẫn tiếp tục đến thăm chú chó Hachiko và tiếp tục công bố những bài viết về sự trung thành tuyệt đối của Hachiko.
    Và một trong số bài viết nầy đã được đăng tải trên tờ báo Asahi Shimbun, một tờ báo lớn nổi tiếng của Tokyo với số lượng độc giả rất lớn, đã khiến cho nhiều người biết tới Hachiko. Lòng trung thành của Hachiko đã gây ấn tượng sâu sắc trong lòng tất cả mọi người, các giáo viên đã lấy Hachiko như một tấm gương sáng về lòng trung thành cho thế hệ trẻ noi theo. Các nghệ sĩ nổi tiếng lúc bấy giờ đã bắt đầu tạc tượng Hachiko và danh hiệu CHŨKEN (chú chó trung thành) đã nỗi tiếng trên khắp nước Nhật.
   Thế rồi nhiều ngày, nhiều tháng, nhiều năm đã âm thầm lặng lẽ trôi qua, Hachiko vẫn có mặt đều đặn ở nhà ga Shibuya vào lúc 3 giờ chiều mỗi ngày. Hết mùa hạ sang mùa mùa đông, từ những ngày nắng gắt đến những cơn mưa giông lạnh lẽo, thậm chí cho đến những cơn bão tuyết dữ dội cũng không làm cho Hachiko nãn lòng. Khi nó trở nên già yếu và mắc bệnh viêm khớp, đau đớn mỗi khi di chuyển bằng bốn chân khập khễnh, nhưng nó không bao giờ sai hẹn một ngày nào. Cuối cùng vào ngày 8 tháng 3 năm 1935, hơn 10 năm kể từ ngày thấy chủ nhân lần cuối cùng, người ta nhìn thấy Hachiko, lúc đó đã 12 tuổi nằm chết gục tại cái nơi nó đã đứng đợi chủ nhân của mình trong suốt nhiều năm dài. Cuối cùng, Hachiko đã có thể gặp lại chủ nhân của mình ở bên kia thế giới.

     Thông tin về cái chết của Hachiko được tất cả các tờ báo của Nhật thời bấy giờ đồng loạt đưa lên trang nhất. Hàng triệu người Nhật đã dành một ngày làm lễ tang cho Hachiko. Cùng năm đó, câu chuyện về Hachiko được viết trong sách giáo khoa về ĐẠO ĐỨC cho học sinh lớp 2 với chủ đề “KHÔNG BAO GIỜ QUÊN TRI ÂN ĐẠO ĐỨC”.
Bức tượng đồng đầu tiên của Hachiko – tác phẩm của nhà điêu khắc nổi tiếng Nhật bản Ando Teru – được dựng vào tháng 4 năm 1934 tại nhà ga Shibuya. Tại quê nhà của Hachiko, một bức tượng tương tự cũng được đặt ngay phía trước nhà ga Odate và bên cạnh ngôi mộ của giáo sư Ueno tại nghĩa trang Aoyama cũng có đặt một bức tượng đài của Hachiko.
Bộ phim “Hachiko Monogatan” sản xuất năm 1987 đã mô tả một cách chân thật nhất cuộc đời, niềm kiêu hãnh về lòng trung thành của chú chó Hachiko. Bộ phim đạt thành công lớn, tạo tiếng vang cho ngành điện ảnh Nhật lúc bấy giờ như đề cử giải thưởng “Award of the Japanese Academy”, giải phim “Genesis Award 1988” và “Mainichi Film Concours 1988”. Bộ phim mộc mạc, giãn dị lại vô cùng xuất sắc, chân thật và vô cùng cảm động. Đến năm 2009, câu chuyện về Hachiko đã được Hollywood dựng thành phim với tựa đề “Hachiko: A Dog’s Story” với sự tham gia của diễn viên nổi tiếng Richard Gere, Hachiko được cả thế giới ngưỡng mộ và tôn vinh.

  Còn tên ác ôn Hồ Chí Minh thì sao? 
Tờ POLSKA TIMES của Ba Lan số ra ngày 5/3/2013 đưa ra một bản xếp hạng 13 tên độc tài đẫm máu nhất Thế kỷ XX, trong đó có Hồ Chí Minh. Theo đó, Hồ Chí Minh qua 24 năm cầm quyền và lãnh đạo ĐCSVN đã gây ra cái chết của 1,7 triệu người VN qua các cuộc chiến tranh đẫm máu.

    Theo tôi, tờ Polska Times đưa con số nầy quá khiêm nhượng mà phải là trên 4 triệu người mới đúng. Tôi xin chứng minh: Ngày 16/6/1997, Thông Tấn Xã nhà nước CSVN đã công bố con số thiệt hại qua 2 cuộc chiến kéo dài 30 năm như sau: 4 triệu người chết. Còn theo ký giả Satya Sivaraman, người Campuchia, cho biết: Đánh chiếm MNVN, CSBV đã hy sinh 4,1 triệu người chết là một sự thậït. Kết quả là HCM và ĐCSVN đã xóa sạch nguyên cả thế hệ thanh thiếu niên Việt Nam để phục vụ cho âm mưu bành trướng của Đệ Tam QTCS Nga – Tàu.

     Thảm kịch của Việt Nam gây ra bởi những tên lãnh đạo “THẤT HỌC & NGU NGỐC” như HCM và những tên lãnh đạo ĐCSVN sau nầy như Lê Duẩn, Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu, Lê Đức Anh…toàn là những tên thiến heo, thiến bò…nhờ vậy mà Mao Trạch Đông và bọn lãnh đạo Bắc Kinh mới thành công trong chiến lược chính trị của chúng “ĐÁNH MỸ ĐẾN NGƯỜI VIỆT NAM CUỐI CÙNG” và chỉ đạo bọn lãnh đạo ĐCSVN phải áp dụng chiến thuật “DU KÍCH CHIẾN” trường kỳ kháng chiến để kéo dài cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn càng lâu, càng có lợi cho Trung Cộng, nó sẽ làm cho Việt Nam kiệt quệ hoàn toàn về nhân lực, tài lực dễ bề không chế và “HÁN HÓA” dân tộc Việt Nam sau nầy.

oOo

Đọc câu chuyện về cuộc đời của Hachiko thì trong mỗi chúng ta “XIN ĐỪNG GỌI BÁC HỒ LÀ TÊN CHÓ ĐẺ”, vì gọi như vậy là chúng ta đã xúc phạm tới danh dự và vô tình đã sỉ nhục họ hàng nhà Hachiko. Nói về lòng trung thành thì bác Hồ không bằng cái móng chân của Hachiko. Tôi xin dẫn chứng một giai đoạn lịch sử để chứng minh về “BẢN CHẤT THÚ VẬT” tàn bạo, dã man của tên Hồ Chí Minh đại gian ác như sau:

[1] HCM BÁN ĐỨNG NHÀ CHÍ SĨ PHAN BỘI CHÂU CHO GIẶC PHÁP:
Đó là tháng 6 năm 1925, cụ Phan Bội Châu bị cảnh sát Pháp ở Thượng Hải bắt ngay tại tô giới Pháp. Theo lời ghi thuật của nhà học giả Hoàng Văn Chí thì cụ Phan bị Pháp bắt là do Hồ Chí Minh bán đứng cụ cho Thực dân Pháp để lấy số tiền thưởng 150.000 đồng của Phòng Nhì Pháp treo thưởng. Tin tức nầy, trước tiên là do đồ đệ của cụ Phan thu lượm được, sau đó thì lan truyền trong khắp các lực lượng cách mạng VN hoạt động tại Trung Hoa. Sự việc này, về sau đã được tay chân HCM giải thích rằng: “Cụ Phan già rồi, không còn thích hợp với cách mạng nữa; mặt khác việc cụ Phan bị bắt, chắc chắn sẽ khích động mạnh mẽ tinh thần yêu nước của người Việt; mặt khác nữa với số tiền thưởng nhận được của người Pháp, có thể dùng để nuôi dưỡng các lực lượng mới”.
Sau nầy tìm hiểu thêm thì biết rằng tên Lâm Đức Thụ (tên thật là Nguyễn Công Viễn) đại diện cho cụ Phan tại Hương Cảng đã hợp tác với HCM trong việc bán đứng cụ Phan cho Thực dân Pháp. Sự việc xong, hai người chia đôi số tiền 150.000 đồng đó. HCM đã dùng phần tiền nầy để tổ chức “Việt Nam Thanh Niên Cách Mạng Đồng Chí Hội”; còn Thụ thì dùng đồng tiền nầy để tiêu phí trong các hộp đêm tại Hương Cảng. Và từ đó, HCM và Lâm Đức Thụ tiếp tục hợp tác trong nhiều năm nữa để bán các đồng chí của cụ Phan. Nguyên vì lúc bấy giờ, các thanh niên VN trốn sang Quảng Châu để xin vào học Trường Võ Bị Hoàng Phố rất đông. Những ai không chịu theo Hồ gia nhập “Đồøng Chí Hội” thì sau khi tốt nghiệp xong sẽ được bảo đảm bí mật trở về nước được an toàn; còn những ai vẫn trung thành với tổ chức của cụ Phan, khi trở về đến biên giới Hoa – Việt, tức thì bị mật thám Pháp bắt ngay. Những người nầy sở dĩ bị bắt, vì trước đó HCM đã báo trước cho Thụ ở Hương Cảng biết, Thụ đem ảnh của họ nộp cho lãnh sự Pháp ở Hương Cảng. Sau đó khi họ bị bắt, HCM và Thụ lại được chia nhau tiền thưởng. Trong tình hình đó, Tổng Chi bộ Việt Nam Quốc Dân Đảng tại Quảng Châu dần dần mất liên lạc với quốc nội. Kết quả là các thanh niên VN tốt nghiệp trường Võ Bị Hoàng Phố mà không gia nhập tổ chức của Hồ thì không dám trở về nước và chỉ có cách là gia nhập vào đoàn quân cách mạng Dân Quốc của Trung Hoa, khiến cho “Việt Nam Quốc Dân Đảng” ở quốc nội dần dần tan rã và Đảng Cộng Sản thì cứ mạnh lên dần.
Theo chú thích J. Buttinger, Việt Nam, tr. 109 thì cụ Phan bị bắt là do sự sắp đạt của HCM và một người khác nữa. Tháng 6 năm 1925, một buổi sáng nọ tại Thượng Hải, cụ Phan nhận được giấy mời đi Quảng Châu tham dự lễ thành lập “Chi bộ Việt Nam của Hội Liên Hiệp các Dân Tộc Nhược Tiểu trên Thế Giới”. Khi cụ sắp lên tàu ở Thượng Hải để đi Quảng Châu thì bị một nhóm người tập kích và dẫn vào tô giới Pháp, rồi bị đưa sang Hải Phòng và giải về Hà Nội. HCM đứng giữa nhận số tiền thưởng 150.000 đồng, cưa đôi với tên đại lưu manh Lâm Đức Thụ…

[2] HCM GIẾT ÂN NHÂN BÀ NGUYỄN THỊ NĂM:
Bà Nguyễn Thị Năm là người đầu tiên bị mang ra xử bắn trong cuộc “Cải Cách Ruộng Đất”. Bà là có công với cái gọi là “cách mạng”. Bà là người đã che giấu và nuôi dưỡng các tên lãnh đạo cộng sản như Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Phạm văn Đồng, Lê Đức Thọ, Lê Thanh Nghị…trong thời gian ĐCSVN còn hoạt động trong vòng bí mật. Hai người con trai của bà là Nguyễn Công và ông Nguyễn Hanh đều theo Việt Minh từ trước năm 1945. Khi phong trào “Cải Cách Ruộng Đất” được phát động, Nguyễn Công đang làm chính ủy Trung đoàn và Nguyễn Hanh là Đại đội phó Bộ đội Thông tin.

[3] HCM GIẾT VỢ LÀ NGUYỄN THỊ XUÂN:
Sau Hiệp định Geneve 1954, HCM về ở trong Bắc Bộ Phủ, bọn ma cô chuyên đi săn tìm gái đẹp về phục vụ sinh lý cho HCM và bọn lãnh đạo cao cấp để thỏa mãn dục vọng với lời giải thích đạo đức giả : “Bác cần phải giải quyết sinh lý điều hòa để tốt cho sức khỏe và công việc hoạt động của Bác được hiệu quả”.
     Đầu năm 1955, tên Trần Đăng Ninh (Tổng cục trưởng Hậu Cần) dụ được cô Nguyễn Thị Xuân (tức Nông Thị Xuân) mới 20 tuổi. Ninh đưa cô Xuân về Hà Nội để phục vụ HCM. Cô Xuân thực thà tin là được về làm vợ HCM, lúc đó HCM đã 65 tuổi. Họ bố trí cho cô ở căn nhà số 66 phố Hàng Bông Thợ Nhuộm Hà Nội. Nhà nầy thuộc Bộ trưởng Công an Trần Quốc Hoàn. Mỗi tuần lễ, tên Trần Quốc Hoàn cho xe chở cô Xuân vào Phủ chủ tịch và HCM tỏ ra rất hài lòng.
      Đến năm 1956, cô Xuân sinh cho HCM được một đứa con trai, đặt tên là Nguyễn Tất Trung. Cô Xuân nói với HCM: “Nay đã có con rồi, xin cho ra công khai”. Nhưng, cô Xuân có ngờ đâu rằng, đó chính là bản án tử hình của cô. HCM đã giao cô cho Trần Quốc Hoàn ra tay cưỡng hiếp cô dã man tại căn nhà số 66 phố Hàng Bông kể trên.
Rồi đến tối ngày 11/02/1957, tên Ninh (bảo vệ HCM) và Tạ Quang Chiến (tài xế HCM) đem xe chở cô Xuân vào Phủ chủ tịch để phục vụ HCM như thường lệ. Nhưng, sáng hôm sau, ngày 12/02/1957, người ta phát hiện xác cô Xuân bị xe cán ở dốc Cổ Ngư lên Chèm. Công An báo cáo là nạn nhân đã chết trước khi bị xe cán. Bác sĩ khám nghiệm tử thi xác nhận nạn nhân bị chùm chăn và “ĐẬP VỠ SỌ BẰNG BÚA”. Nhưng, Trần Quốc Hoàn ra lệnh đem chôn gấp, không cho mổ tử thi giáo nghiệm. Vẫn theo báo cáo của công an, chiếc xe gây tai nạn chạy từ Phủ Chủ Tịch ra. Và sau đó, vụ án mạng cực kỳ dã man đã được chìm xuồng. Dĩ nhiên, làm sao tên lãnh tụ khốn nạn HCM có thể chấp nhận được công khai lấy vợ thì còn chi hình ảnh vĩ đại giả tạo của vị lãnh tụ được thần thánh hóa suốt đời sống độc thân, chỉ biết sả thân phục Tổ quốc & Nhân dân.

[4] HCM CON QUỶ RÂU XANH MẮC BỆNH “ẤU DÂM”:
   
   “Lần gặp bác Hồ tôi bị mất trinh”, đó là tâm sự của Huỳnh Thị Thanh Xuân.
 Xin tóm lược: “Năm 1964, tôi mới 15 tuổi, được cơ quan và “Mặt trận dân tộc Giải phóng Miền Nam” cho ra Miền Bắc học văn hóa Trường Hành Chánh, gần Cầu Giấy. Thật là vinh dự biết bao cho bản thân tôi, có tên trong danh sách gặp bác Hồ, nhà ái quốc vĩ đại của dân tộc ta.
Đó là lúc 17 giờ, ngày 30/8/1964. Sau buổi cơm chiều, bác Tố Hữu người phụ trách chung, nói: “Các cháu có danh sách sau đây ở lại cùng với anh HANH, phụ trách đội thiếu niên tiền phong”. Bác Tố Hữu đọc danh sách: “…Lập, Lộc, Dung, Đệ, Hòa, Độ, Đâu, Thanh, Kiến.” Nghe vậy, tất cả chúng tôi có tên trong danh sách reo ầm cả lên về phòng thay quần áo. Xuống cầu thang, có 2 xe Vônga và 2 xe com măng ca đậu trước cửa. Đoàn chúng tôi có 16 người chia nhau lên xe đầy đủ. Xe chạy đến Cầu Giấy chạy thẳng, rẽ phải vào đường Hoàng Hoa Thám, đến đường Hùng Vương rồi dừng lại. Một chú công an mở cổng, đoàn chúng tôi đi bộ dọc theo con đường rải sỏi đá.
       Gần đến nhà khách, xuất hiện một ông già mặc bộ đồ kaki màu xám với đôi dép râu đen đang từ từ đi ra. Bỗng anh Hanh và tất cả reo lên: “Bác Hồ!”. Chúng tôi tranh nhau ôm chặt Bác, rồi bác dẫn chúng tôi đi vào nhà và bước lên cầu thang tầng 2. Lên khỏi cầu thang, rẽ tay phải đi vào phòng họp mặt. Bác giới thiệu với chúng tôi: “Bác là Hồ Chí Minh, còn đây là bác Phạm Văn Đồng, bác Trường Chinh, bác Võ Nguyên Giáp , bác Lê Thanh Nghị, các bác ở Bộ Chính Trị hôm nay cũng có mặt với các cháu” thì thấy một ông già đi vào, bác Hồ giới thiệu luôn : “Đây là bác Tôn của các cháu!”
     Bác Hồ đi đến từng người trong chúng tôi và ôm hôn mỗi người một cái. Khi hôn tôi, bàn tay của bác không chịu dừng lại sau bờ mông của tôi, rồi bác lướt qua bạn bên cạnh. Tự dưng, tôi chảy nước mắt, tôi thấy bác Hồ này kỳ cục quá, không giống như tôi tưởng. Lúc nầy, các bạn nhìn lẫn nhau và thấy mắc cỡ vô cùng…
Đêm đó tôi được chị Nhàng, thư ký của bác, nói cho tôi biết là tôi hân hạnh được bác muốn gặp riêng, rồi tôi được chị Nhàng dẫn đi tắm rữa sạch sẽ. Sau đó, chị Nhàng dẫn tôi tới phòng ngủ của Bác. Chị Nhàng gõ cửa ba tiếng, cánh cửa mở ra, chị bảo tôi đi vào và xoay lưng bỏ đi. Khi tôi bước vào phòng, Bác ôm chầm lấy tôi, hôn môi tôi, hai tay bác xoa nắn khắp người tôi, bác bóp hai bờ ngực nhỏ của tôi, rồi bóp mông, bác bồng tôi thều thào vào trong tai tôi: “Để bác cấy hạt giống đỏ cho cháu mang về miền Nam cho bác nhé!” rồi bác bồng tôi lên giường, hai tay bác đè tôi ra và lột quần áo tôi. Bác như một con cọp đói mồi. Sau một hồi chống cự, tôi biết mình không thể nào làm gì hơn nên đành nằm xuôi tay…hai hàng lệ một cô gái vị thành niên miền Nam vừa tròn 15 tuổi đã bị bác cướp đi mất cái trong trắng.

    Những đêm sau, mấy đứa con gái khác cũng được dẫn đi như tôi, tôi biết là chuyện gì sẽ xảy ra với chúng. Nhưng, chúng tôi không ai dám nói với ai lời nào. Và qua cái chết của con Lành và con Hoa thì những ngày sau đó chúng tôi sống trong hoang mang và sợ sệt không biết là khi nào tới phiên mình…

    Bây giờ ngồi đây, tự điểm mặt lại trong số chúng tôi được vinh dự gặp Bác Hồ hơn 40 năm về trước, chúng tôi đều trưởng thành, ngồi ngậm ngùi nhớ lại những đứa bỏ xác lại trong Phủ Chủ Tịch và không bao giờ trở lại được Miền Nam. (bài viết nầy được Huỳnh Thị Thanh Xuân viết ngày 2/9/2005).

   Bao giờ sự thật nầy sẽ được phanh phui? 
 Có bao nhiêu bé gái vị thành niên của MNVN đáng thương bị dụ dỗ đưa ra miền Bắc XNCN để phục vụ cho con quỷ râu xanh Hồ Chí Minh và bọn lãnh đạo ĐCSVN? Có bao nhiêu bé gái ngây thơ đã bị chúng giết chết sau khi thỏa mãn thú tính, để bịt miệng hành động dâm dục đồi bại của cả lũ chúng nó?

II. VÌ SAO HÃY GỌI BÁC HỒ LÀ TÊN “LỢN ĐẺ”?

Trong văn hóa Đông Phương nói chung và VN nói riêng, con lợn hay con heo là biểu tượng cho thói tham ăn, tham dục, sự bẩn thỉu, dơ dáy và đặc biệt là cá tính “NGU NHƯ HEO”. Đồ con lợn như là một câu chửi những tên “ngu như heo” hoặc những tên “thiến heo”. Vì vậy, theo kinh Qur’an, người theo đạo Hồi bị cấm ăn thịt lợn. Người Do Thái cũng bị cấm ăn thịt lợn theo luật Kashrut?
Vì bản chất của Hồ Chí Minh “NGU QUÁ LỢN” nên đã gây tội ác tày trời đối với dân tộc. Bi kịch của Tổ quốc & Dân tộc Việt Nam xảy ra ngày hôm nay, bắt đầu từ tên lãnh tụ thất học và cực kỳ ngu ngốc là Hồ Chí Minh. Xin dẫn chứng:

[1] TỘI DU NHẬP CHỦ NGHĨA CỘNG SẢN NGOẠI LAI VONG BẢN:
Trong lịch sử chống ngoại xâm của Dân tộc Việt Nam, không có cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc nào ngu xuẩn cho bằng hai cuộc “KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP” và cuộc chiến tranh “CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC” do HCM và ĐCSVN lãnh đạo. HCM như một tên hề tấu hài tên sân khấu cải lương. Hắn viết: “Luận cương của Lênin làm tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc. Ngồi một mình trong buồng mà tôi mà tôi muốn nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!” Từ đó, tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc Tế Thứ Ba.” (HCM toàn tập, T10, Tr 127).
Với trình độ văn hóa cấp ba trường làng và kiến thức bậc tiểu học hiểu biết được bao nhiêu về chủ nghĩa Marxism – Leninism? Làm thế nào HCM nhận thức nổi “sách lược chính trị của Lênin viết trong tập tham luận “VỀ CÁC VẤN ĐỀ DÂN TỘC & THUỘC ĐỊA”? Cái gọi là “CHIẾN TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC” và “ĐẤU TRANH GIAI CẤP” chỉ là “LƯỠNG DIỆN”, Hồ Chí Minh làm sao đủ kiến thức và sự thông minh tối thiểu để thấy điểm “CHIẾN LƯỢC” tham vọng của Lênin và Staline là lần lượt giậït sập toàn bộ hệ thống “THUỘC ĐỊA CŨ” của Đế quốc Anh và Thực dân Pháp để biến nó thành hệ thống “THUỘC ĐỊA KIỂU MỚI” của Đệ tam QTCS? Cái sai lầm cực kỳ ngu xuẩn của HCM là lấy “DIỆN” của Lênin & Staline làm “ĐIỂM” chiến lược của mình và hy sinh quyền lợi Tổ quốc & Dân tộc VN, điên cuồng tới độ mù quáng tình nguyện làm tay sai cho Nga – Tàu.
HCM thất học, cực kỳ ngu dốt làm sao đủ bản lĩnh của Josip Broz Tito? Nhà lãnh đạo của Đảng CS Nam Tư từ năm 1939 đến năm 1980. Mặc dù Tito là một trong những thành viên ban đầu của Cominform, Tito là nhà lãnh tụ duy nhất và đầu tiên có khả năng chống lại sự điều khiển của Đế quốc Liên Xô do Staline lãnh đạo. Do đó, Nam Tư thuộc Phong trào không liên kết, không chống nhưng cũng không ngả theo phe nào trong hai phe đối đầu trong “Chiến tranh lạnh”.

[2] TỘI TIÊU DIỆT CÁC ĐẢNG PHÁI QUỐC GIA:
Ngày 19/8/1945, HCM và đồng Đảng CSVN đã tổ chức một cuộc biểu tình tại Nhà Hát Lớn Hà Nội, tiến thẳng tới Phủ Khâm Sai, cơ quan đầu não của chính phủ Trần Trọng Kim, bắt giữ Khâm Sai Bắc Kỳ Nguyễn Xuân Chữ và cướp chính quyền của Chính phủ hợp pháp Trần Trọng Kim. Ngày 2/9/1945, HCM đọc cái gọi là “Tuyên ngôn Độc Lập”, một thứ độc lập trá hình, một khi HCM chỉ là tên tay sai của Đế quốc LX và tên Mao Trạch Đông.
Ngày 6/3/1946, sau khi cướp được chính quyền bằng thủ đoạn ma giáo, HCM ký kết “Hiệp Ước Sơ Bộ” với Thực dân Pháp, cho phép quân đội Pháp đổ bộ vào miền Bắc VN thay thế quân đội Trung Hoa, lúc đó đang hậu thuẫn cho VNQDĐ để tước khí giới quân đội Nhật. Nhưng, thực chất là để cho Việt Minh rảnh tay tiêu diệt các “Đảng phái Quốc gia” nhất là VNQDĐ.
HCM và ĐCSVN bịa đặt ra chuyện: “VNQDĐ & Đại Việt Quốc Dân Đảng nhờ có số vũ khí do Trung Hoa Dân Quốc chuyển giao đã tổ chức các lực lượng vũ trang bắt cóc, tống tiền, tổ chức ám sát những người theo Việt Minh và cả những người trung lập như ông Ba Viên rồi đổ lỗi cho Việt Minh. Với lý do trên, HCM đã chỉ thị Võ Nguyên Giáp tìm cách sát hại các “đảng phái đối lập” như: Việt Quốc, Đại Việt và cả những người theo Đệ Tứ Quốc Tế, còn gọi là Cộng Sản Đệ Tứ là liên minh của những người theo chủ nghĩa TROXKIZM thành lập tại Paris vào năm 1938, theo khuynh hướng “cách mạng thường trực” do Trotsky đưa ra từ sau khi Lenin chết (1924) để chống lại đường lối “cách mạng vô sản trong một quốc gia” của Stalin như: Nguyễn An Ninh, Tạ Thu Thâu, Phan Văn Hùm, Hồ Hữu Tường, Ngô văn Lực…
Võ Nguyên Giáp đã dùng “chiêu tá đao sát nhân”, mượn bàn tay Phòng nhì Pháp tàn sát những đảng viên của các đảng phái quốc gia. Võ Nguyên Giáp âm mưu tạo ra vụ án, vu oan giá họa cho tổ chức Quốc Dân Đảng là giết người rồi chôn quanh căn nhà số 9 phố Ôn Như Hầu để ngụy tạo cái cớ để lính Pháp và Việt Minh tấn công vào các chiến khu của VNQDĐ và Đại Việt QDĐ ở miền Bắc và miền Trung.
Ngày 12/7/1946, theo lệnh của Trường Chinh, Việt Minh cho lực lượng CAND đột nhập vào trụ sở VNQDĐ ở số 9 phố Ôn Như Hầu. Hằng trăm người bị giết bằng cách trói lại và bị quăng xuống sông cho đi “mò tôm” rồi loan tin là những người nầy bị VNQDĐ thủ tiêu. Sau vụ nầy làm VNQDĐ tan rã, nhiều người phải chạy trốn sang Tàu như cụ Nguyễn Hải Thần, Huỳnh Thúc Kháng, Vũ Hồng Khanh, Hoàng Đạo, Nhất Linh Nguyễn Tường Tam.
Nhiều lãnh tụ Quốc gia đã bị Việt Minh thủ tiêu như: Trương Tử Anh (Đại Việt QDĐ) bị giết ở Hà Nội, Khái Hưng & Phan Khôi (VNQDĐ) bị giết ở Mỹ Lộc, Nam Định; Lý Đông A, Phạm Lãi, Nguyễn Ân (Duy Dân) bị giết ở Nho Quan, Hòa Bình; Tạ Thu Thâu ở Quảng Ngãi; Phan Văn Hùm, Dương Bạch Mai ở Biên Hòa; Bửu Viêm, Nguyễn Trung Thuyết ở Huế; hơn 3.000 chức sắc, tín hữu Cao Đài bị tàn sát ở xã Nghĩa Trung, Quảng Ngãi cuối tháng 8/1945 và 115 chức sắc và tín hữu khác bị giết ngày 12/3/1947 tại Trung Lập Thượng, Tây Ninh; trên 400 tín đồ PGHH bị thủ tiêu tại Phú Lâm vào cuối năm 1945 và 235 chức sắc & tín đồ PGHH bị bắt rồi bị giết bằng dao găm, mã tấu, sau đó đem chôn tập thể tại Phú Thuận, Cao Lãnh. Đức Huỳnh Phú Sổ bị tên Việt Gian Bửu Vinh mưu sát tại làng Tân Phú (tức Đốc Vàng), tỉnh Long Xuyên ngày 16/4/1947 theo kế hoạch của HCM.
HCM thú nhận: “Chủ nghĩa Quốc gia nếu không bị khống chế thì sẽ là một hiện tượng nguy hại cho sự phát triển Chủ nghĩa Cộng Sản ở các xứ thuộc địa”

[3] TỘI GIẾT HÀNG TRĂM NGÀN NGƯỜI TRONG PHONG TRÀO CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT:
Chiến dịch CCRĐ long trời lở đất, máu đổ thịt rơi vào những năm cao điểm 1955-1956 tại Miền Bắc XHCN. Theo chứng nhân lịch sử, ông Hoàng Hữu Quýnh viết trong cuốn “Tôi bỏ Đảng” trang 31 & 32, ông viết: “Theo sự chỉ đạo của TBT Trường Chinh và Hồ Viết Thanh, Trưởng ban CCRĐ T.Ư, con số tối thiểu dành cho những bản án tử hình phải tăng từ 1 đến 5 người cho mỗi xã. Ở Nghệ An, thực tế mỗi xã có tới 6,7 địa chủ bị xử tử hình. Họ dấy lên “THÀ GIẾT LẦM HƠN BỎ XÓT”. Con số địa chủ tự tử và bị giam bỏ chết đói cao hơn cả số bị tử hình.
Cho tới nay, ngay chính cả ĐCSVN tìm ra con số chính thức người chết trong phong trào CCRĐ là bao nhiêu? Nhưng, người ta nghĩ đến một con số đáng ghê sợ. Một nguồn tin cho biết cuộc tàn sát tập thể nầy lên tới “MẤY TRĂM NGÀN NGƯỜI” ( con số ước tính khoảng 500.000 người). Số người chết trong chiến dịch long trời lở đất nầy nhiều đến độ mà khắp miền Bắc vào lúc ấy, đi đâu người ta cũng thấy những vành tang trắng để tang cho thân nhân bị đấu tố. Số người bị gọi là địa chủ chết đã nhiều, thế nhưng chưa thấm vào đâu so với thân nhân của địa chủ bị chết đói vì “BAO VÂY KINH TẾ” của Trường Chinh: “Thà giết 10 người vô tội, còn hơn bỏ sót một kẻ thù”. Mỗi chiến dịch giảm tô và CCRĐ đều được thực hiện bằng 5 đợt liên tiếp theo chiến dịch vết dầu loang.
Với chủ trương “TRÍ, PHÚ, ĐỊA, HÀO” phải đào tận gốc, trốc tận rễ, HCM và bọn lãnh đạo ĐCSVN sau khi cử người đi Liên Xô và học tập, đã phát động phong trào CCRĐ với mục đích không những làm tê liệt giới đại chủ mà còn để “BẦN CÙNG HÓA” nhân dân. Nhiều nông dân có năm sào ruộng cũng bị liệt vào hàng địa chủ để phải chịu đấu tố đến vong mạng.
Tên “lợn đẻ” HCM và Trường Chinh là hiện thân của tên Lý Tự Thành và Trương Hiến Trung xuất thân là những tên thiến heo và đồ tể. Nhân lúc vương quyền thời kỳ cuối triều Minh thối nát, thái giám lộng hành lại gặp nạn mất mùa, nông dân đói rách lầm than nên Lý và Trương tập hợp được một số quần chúng nổi dậy. Ảnh hưởng nghề nghiệp là đồ tể, hai tên nầy nghĩ rằng làm cách mạng là phải loạn đả, loạn sát làm cho thiên hạ kinh sợ.
Năm 1630, sau khi gây được thanh thế rồi, Lý và Trương xưng vương và cho dựng tấm bia mệnh danh là “THẤT SÁT BI” và đặt ra bài hát có 7 chữ “GIẾT”. Quân của Lý & Trương đi đến đâu cướp của giết người tới đó. Cuối cùng cả hai chết trong binh loạn. Bài hát có 7 chữ “giết”, chưa chắc đã rùng rợn bằng bài thơ của Tố Hữu viết trong chiến dịch CCRĐ:
Giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ
Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu rập bước chung lòng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin bất diệt.
Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, trả lời báo “Quê Mẹ” khi ông du lịch sang Pháp sau năm 1975, đã nói: “Trong lịch sử Việt Nam, từ hồi lập quốc đến nay, chưa có một cuộc thanh trừng giết dân nào khủng khiếp, tàn bạo như CCRĐ. Hầu như mọi cuộc đấu tố đều có sự nhúng tay của CỐ VẤN TRUNG CỘNG. Điều đó cho thấy, chính quyền HCM lệ thuộc ngoại bang như thế nào”.

[4] THI HÀNH LỆNH CỦA MAO, HCM TIÊU DIỆT NỀN VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG DÂN TỘC:
Trong 1.000 nô lệ giặc Tàu + 100 năm nô lệ Thực dân Pháp, dân tộc VN chưa ai lẫn lộn căn cước của mình và mất gốc. Người VN vẫn là người VN, trước sau như một không thay đổi bản chất. Nhưng, từ khi tên lãnh tụ thất học “đại ngu” Hồ Chí Minh thi hành độc kế của Mao Trạch Đông, đem nền “VĂN HÓA XƯỞNG ĐẺ” vô thần du nhập vào Việt Nam đã tạo nên một thế hệ thanh niên miền Bắc XHCN lẫn lộn căn cước và vong bản. Hồ Chí Minh đã từng bước tấn công trực diện, phá nát nền “Văn hóa truyền thống Dân tộc” và ngụy tạo cả “Lịch sử Việt Nam” là cái khiên bảo vệ giống nòi “Con Rồng Cháu Tiên” để mở đường cho bọn lãnh đạo Trung Nam Hải thực hiện “Giấc mơ Chệt” hoang tưởng là muốn “Hán hóa Việt Tộc”. Đây là một đòn hết sức hiểm độc của Bắc Kinh mà HồChí Minh và ĐCSVN thi hành một cách triệt để.
Cổ nhân nói rằng: “Làm thầy thuốc sai chỉ giết một người. Làm chánh trị sai lầm tiêu vong cả một thế hệ. Làm văn hóa sai lầm di hại tới nhiều thế hệ”. Phải nói lên điều nầy, mới lột trần hết tội ác của tên “lợn đẻ” Hồ Chí Minh đã gây nên đại thảm họa làm hệ lụy đến thế hệ con cháu của chúng ta hiện nay. ĐCSVN đã biến thiên đường XHCNVN từ kinh dị đến kinh hoàng…luân thường đảo ngược, xã hội đầy rẫy bạo lực, tệ đoan xã hội ma cô đĩ điếm, những tụ điểm xì ke ma túy, quán nhậu bán rượu độc…nở rộ như nấm sau cơn mưa từ Hà Nội cho đến Sài Gòn, từ các tỉnh thành cho tới tận hang cùng ngõ hẹp… đây là chủ trương của những tên lãnh đạo ĐCSVN dùng ma túy, rượu độc để làm liệt kháng tinh thần đấu tranh của giới trẻ Việt Nam.

 [5] HCM MUA CHỊU SÚNG ĐẠN XÂM LƯỢC MNVN – DÂNG BIỂN ĐẢO CHO TC ĐỂ TRỪ NỢ:
Ngày 20/7/1954, HCM & Việt Minh đã cấu kết với Pháp, Liên Xô và Trung Cộng chia cắt đất theo Hiệp Định Geneve. Tại miền Bắc XHCN, HCM áp đặt chế độ Cộng Sản độc tài toàn trị. Trong khi nhân dân miền Bắc hoàn toàn chìm đắm trong hỏa ngục cộng sản. Mọi quyền tự do căn bản của nhân dân bị tước đoạt, các tôn giáo bị khống chế, tài sản của họ bị cưỡng đoạt bất hợp pháp trong chiến dịch CCRĐ…đã đưa đến nhiều vụ nổi dậy, bạo động lớn nhỏ đã xảy ra sau đó và vụ nổi dậy lớn nhất là vụ “QUỲNH LƯU KHỞI NGHĨA” ở Nghệ An vào đầu tháng 10 năm 1956.
Theo Cẩm Ninh, tác giả bài viết: “Quỳnh Lưu khởi nghĩa” thì đây là “Một cuộc đấu tranh đẫm máu chống lại chính sách cai trị dã man của lãnh đạo ĐCSVN mà qua đó, chính sách CCRĐ đã là nguyên nhân chính làm bùng nổ cơn phẫn nộ của người dân.”
Rạng ngày 13/11/1956, một cuộc biểu tình vĩ đại với sự tham gia của gần 100.000 đồng bào tỉnh Nghệ An. Trước tình hình nầy, HCM ra lệnh cho Văn Tiến Dũng điều động Sư đoàn 304 từ Thanh Hóa vào bao vây. Tới ngày 14/11/1956, Văn Tiến Dũng huy động thêm Sư đoàn 312 vào trận địa quyết tiêu diệt nhân dân Quỳnh Lưu theo chỉ thị của HCM, nhận chìm cuộc nổi dậy nầy trong biển máu. Theo những người dân Quỳnh Lưu kể lại thì số người bị giết ít nhất cũng cả ngàn người và số người bắt đi tù ít nhất cũng trên 6.000 người.
Trong khi đó từ phía Nam vĩ tuyến 17. Ngay từ tháng 7/1954, chánh phủ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm đặt trọng tâm thương thuyết với Pháp, buộc Thực dân Pháp phải trao trả ngay chủ quyền Quốc Gia mà không cần đổ máu.
Ngày 26 tháng 10 năm 1955 là Ngày QUỐC KHÁNH, mở đầu kỷ nguyên nước VIỆT NAM CỘNG HÒA do Tổng Thống Ngô Đình Diệm lãnh đạo. Suốt 9 năm cầm quyền, chánh phủ do ông lãnh đạo đã được trên 80 quốc gia trên thế giới công nhận và được gia nhập ĐẠI HỘI ĐỒNG LHQ. Trong những năm đầu cầm quyền, Tổng thống Ngô Đình Diệm không tán thành sự sự can thiệp trực tiếp của quân đội đồng minh Hoa Kỳ vào MNVN vì ông cho rằng phía Quốc Gia đủ sức đối phó với quân CSBV nếu được viện trợ đầy đủ vũ khí, quân trang, quân dụng và tài chánh. Chính vì tính cương trực, bất nhân nhượng với đồng minh Hoa Kỳ của Tổng thống Ngô Đình Diệm, đó một trong những lý do quan trọng, đưa đến vụ đảo chánh tháng 11/1963. Ông và bào đệ Ngô Đình Nhu bị một nhóm tướng lãnh phản phúc bức tử.

Như chúng ta đã biết, ngày 4/9/1958, khi TC ngang ngược tuyên bố lãnh hải, đường “LƯỠI BÒ” chạy dọc bờ biển Việt Nam, xuống Nam Dương, rồi vòng lên phía đông, chạy dọc theo bờ biển Phi Luật Tân và tất cả quần đảo HOÀNG SA & TRƯỜNG SA đều thuộc chủ quyền của TC. Để trả nợ Bắc Kinh cho mua chịu 20 tỷ USD vũ khí, bom đạn, quân trang, quân dụng…để phục vụ cho cái gọi là “CHỐNG MỸ CỨU NƯỚC” để giết người VIỆT QUỐC GIA. HCM đã muối mặt, chỉ thị cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhân danh chánh phủ VNDCCH đặt bút ký công hàm đề ngày 14/9/1958 gởi Thủ tướng Chu Ân Lai: “Ghi nhận và tán thành bản tuyên bố của chánh phủ nước CHND Trung Hoa, quyết định về hải phận của Trung Quốc.”
Nếu chiếu theo điều 73 Lê Triều Hình Luật thì cái tội phản bội tổ quốc, bằng cách cấu kết với ngoại bang xâm phạm chủ quyền của quốc gia, xâm phạm sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc, HCM phải bị bêu đầu làm gương. Điều 73 Lê Triều Hình Luật: “Ai bán ruộng đất nơi biên cương cho người nước ngoài thì bị tội chém.” (Chư mại biên cương điền thổ dữ ngoại quốc nhơn trảm).

[6] TỘI ÁC CUỐI CÙNG CỦA HỒ – THẢM SÁT TẾT MẬU THÂN TẠI HUẾ:
Tội ác cuối cùng của tên “LỢN ĐẺ” HCM là cuộc thảm sát Tết Mậu Thân – Vành khăn sô cho Huế năm 1968, đã nói lên đầy đủ cái bản chất lưu manh, lật lọng, tráo trở, dối trá đến độ vô liêm sĩ của một tên “chủ tịch” của cái gọi là nước VNDCCH. HCM đã nhận chìm MNVN trong biển máu vào những ngày Tết Nguyên Đán truyền thống thiêng liêng của dân tộc.
Khi tiếng pháo nổ vang tiễn năm Đinh Mùi và đón mừng năm mới Mậu Thân thì người ta nghe tiếng của HCM oang oang trên đài phát thanh, bài thơ chúc Tết của HCM:
Xuân nầy hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp mọi nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Nhưng dân chúng MNVN đâu có ngờ rằng đây là “MẬT LỆNH” mở đầu cuộc Tổng tấn công và nổi dậy toàn diện của quân CSBV và MTGPMNVN mà trọng điểm là các thành phố lớn như Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ…
Khi chiếm được Huế, HCM tưởng là đã “giải phóng vĩnh viễn” cố đô Huế. Sau khi “Ủy Ban Nhân Dân Cách Mạng Thừa Thiên Huế” được thành lập, chúng ra thông cáo, yêu cầu tất cả quân cán chính của chính quyền VNCH phải ra trình diện rồi bắt giữ họ. Những tên cộng sản nằm vùng bắt đầu lộ diện như anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan, Nguyễn Đắc Xuân…đi lùng bắt những người không ra trình diện và những người bị chúng cho là thành phần phản động. Nhiều người bị giết ngay tại nhà, trước ngõ hoặc trên đường phố và được chúng chôn tập thể tại các hố chôn người trong 28 ngày đêm chiếm giữ Huế.

Sau khi QL/VNCH tái chiếm lại HUẾ, người ta đã khám phá được gần 100 hầm hố chôn người tập thể. Tổng cộng số xác chết vào khoảng hơn 5.000 người, đó là chưa kể hơn 2.000 người mất tích. Nhiều nạn nhân bị trói hai tay và bị bắn vào đầu. Theo lệnh của HCM, đây là cuộc tàn sát dã man nhất của quân CSBV trong chiến tranh Việt Nam từ 1955 – 1975.

Thảm kịch của đất nước gây ra bởi những tên lãnh tụ thất học, ngu dốt bắt đầu từ tên Hồ Chí Minh. Thật vậy, HCM đã gia nhập Đảng Cộng sản Pháp năm 1921, được huấn luyện tại Moskva năm 1923 để trở thành một đảng viên phục vụ Quốc Tế Cộng Sản. HCM từng tuyên bố: “Con đường giải phóng Dân tộc phải là con đường cách mạng vô sản. Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội.” và “Yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa” (HCM: Toàn tập, nxb Sự Thật, Hà Nội 1980, tập 1, tr.3-4).

Nếu như, HCM không đem cái chủ nghĩa cộng sản vong bản du nhập vào Việt Nam thì đất nước ta ngày hôm nay đã không trở thành “THUỘC ĐỊA” hay “CHƯ HẦU” của Trung Cộng. 
Vì vậy, xin đừng gọi bác Hồ là tên “CHÓ ĐẺ” mà phải gọi bác Hồ là tên “LỢN ĐẺ” vì HCM ngu quá lợn mới đúng!

NGUYỄN VĨNH LONG HỒ