Saturday, May 9, 2015

Những gì Cộng sản Việt Nam đang che giấu

Trịnh Hội

USA Today 8:03 p.m. EDT April 30, 2015
trinh hoi

     Mấy tuần trước, nhân dịp kỷ niệm sự thất trận của Sài Gòn lần thứ 40 dưới tay các lực lượng Cộng sản Bắc Việt, tôi tình cờ đọc một bài báo khẳng định rằng bên thắng cuộc nay được gọi ngắn gọn là Việt Nam đã vượt qua được quá khứ chiến tranh, với một thế hệ trẻ thích mua sắm đang ồ ạt theo lối sống Âu Mỹ, hưởng thụ những thành quả về mặt kinh tế.

Tác giả là một Việt Kiều (một “Người Việt Hải Ngoại”, một thuật ngữ ám chỉ những người lớn lên ở phương Tây) cũng giống như tôi. Cô tỏ vẻ kinh ngạc vì chỉ bốn thập niên sau khi thoát nạn chiến tranh, nhiều cựu “thuyền nhân” đã giỏi xoay sở tìm vận may làm giàu ở một nước mà cha mẹ họ đã bỏ chạy trong hoảng loạn và nước mắt.
Tuy nhiên cô nhìn nhận, không phải Việt Kiều nào cũng vượt qua được chuyện đau buồn. “Một số người vẫn bị ám ảnh bởi chiến tranh và áp bức,” cô viết.
Lúc đó, tôi thấy nhận định của bài viết gần như quá ngu ngơ và ấu trĩ. Và đáng ngại hơn thế nữa khi người viết có sức thuyết phục, trích dẫn nhiều Việt Kiều, kể cả Henry Nguyễn, một cựu chuyên gia của tập đoàn Goldman Sachs, từng tốt nghiệp đại học Harvard, người mà năm ngoái đã đưa McDonald’s vào Việt Nam.
Ngẫu nhiên, Henry Nguyễn không ai khác mà là con rể của Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng.
Nếu một người có lý lịch như tác giả mà vẫn không nhận thức được lý do đích thực vì sao nhiều người Việt ở hải ngoại vẫn chọn không trở về quê hương mình sau 40 năm, thì chúng ta còn mong đợi gì với thế giới bên ngoài?
Thật quá nông cạn để cho rằng quá khứ đắng cay đã ngăn cản họ trở về. Trên thực tế, đối với nhiều người điều đó không đúng với sự thật. Họ không quay trở lại đơn giản là vì những vi phạm nhân quyền trắng trợn vẫn đang tiếp tục được gây ra bởi cùng một chế độ đã từng bức hại họ. Hãy tưởng tượng chế độ Phát xít Đức Quốc xã vẫn đang nắm giữ quyền lực tại nước Đức hiện nay. Xin hỏi có ai dám giả định y như thế?
Cộng sản Việt Nam dĩ nhiên không phải là Đức Quốc Xã. Chế độ này không thiết lập những cánh đồng chết như Pol Pot đã làm ở Cambodia, cũng như họ chưa bao giờ sử dụng các buồng hơi ngạt để bóp nghẹt và tiêu diệt các nhóm thiểu số. Nhưng những gì chế độ Việt Nam đang thi hành là đè bẹp và làm tắt tiếng những người bất đồng chính kiến bằng cách đàn áp những ai dám thách thức quyền lực tuyệt đối của họ.
    
     Trần Huỳnh Duy Thức, một nhà đấu tranh, đã bị kết án 16 năm tù vì đã cùng chắp bút một tuyên ngôn chính trị mang tên “Con đường Việt Nam.” Một nhóm tự lập khác dựa trên đức tin, phát xuất từ miền Trung Việt Nam và được biết qua danh xưng ‘Bia Sơn’ đã bị giải tán cách đây hai năm với tất cả 22 nhà lãnh đạo trong nhóm bị bố ráp và bỏ tù, từ 10 năm đến chung thân.
Bởi thế, nó không chỉ là một điều quá ngu ngơ mà còn là một sai trái khi bạn sử dụng một cụm từ nhàm chán để giải thích sự căng thẳng sâu sắc giữa cộng đồng 4 triệu người Việt ở hải ngoại và nhóm quyền lực thống trị ở Việt Nam. Sự chia rẽ ấy không chỉ đơn thuần là một bi hài kịch. Mà nó nói về một cộng đồng lưu vong, sau 40 năm di tản tìm tự do, không muốn gì khác hơn là mang chính những quyền tự do đó về lại quê hương của họ.
Có lẽ tôi không nên chê trách ký giả Việt Kiều này, người mà rất có thể đã không lớn lên dưới chế độ cộng sản như tôi. Bởi một điều khiến tôi luôn ngạc nhiên là sự thiếu vắng trầm trọng một cuộc tranh luận về đất nước Việt Nam cũng như những gì đã và đang xảy ra ở đó. Lập luận phổ biến thường chỉ nhắc về một cuộc chiến do Mỹ chủ trương, mang tiếng thảm bại hoặc đó là một con hổ đang lên hiện đang thu hút được cả hai: các nhà đầu tư và khách tây ba lô.
Chỉ mới tuần trước, nhà báo Anh kỳ cựu Nick Davies đã viết một bài báo dài mang tựa đề “Việt Nam 40 năm sau: Làm thế nào một chiến thắng của cộng sản đã nhường chỗ cho chủ nghĩa tư bản lũng đoạn.” Dành một phần lớn những tra cứu của mình để nhắc đến nguyên do và sức tàn phá của chiến tranh đã ập xuống đầu cổ người dân Việt Nam, ông Davies ghi nhận: “Mỹ đã bỏ lại một Việt Nam trong tình trạng bị hủy hoại’.
      Lạ lùng thay, thực trạng của hàng trăm ngàn quân nhân cán chính miền Nam bị gửi đi các “trại cải tạo” bởi bên thắng cuộc lại không hề được đả động đến trong bài viết của ông Davies. Cũng như dữ kiện hơn một triệu thuyền nhân Việt Nam đã phải bỏ nước ra đi, không phải trong chiến tranh mà khi hoà bình đã đến.

Đối với nhiều người, trên thực tế, hòa bình chưa bao giờ ngự trị trên quê hương họ và nhất định không thể là từ ngày định mệnh ấy của năm 1975. Như một người tị nạn nổi tiếng, nhà bác học Albert Einstein, từng nhận xét: “Hòa bình không chỉ đơn thuần là không có chiến tranh, mà là sự có mặt của công lý.”

     Tuy vậy đối với phong trào phản chiến trong thập niên 60’s của Mỹ, hình như đang có một sự nhận thức có thiện chí, chậm nhưng hiện đang xảy ra:  Đó là một thực trạng ở Việt Nam, nghĩa là cuối cùng đất nước này cũng đã kết hợp được sự tồi tệ nhất của cả hai thể chế: một nhà nước xã hội chủ nghĩa độc đoán đi đôi với sự thái quá không kềm chế của chủ nghĩa tư bản.
 Vì vậy cả một dân tộc đã bị cướp đi quyền làm người lẫn một cuộc sống sung túc, trong lúc giới cầm quyền chóp bu bỏ ”đầy tiền vào túi tham và núp đằng sau những ngôn từ rỗng tuếch của cách mạng.” Điều đó, ông Davies kết luận, là sự dối trá vĩ đại nhất.

Ước chi ông và thế giới đã đi đến cùng một kết luận như thế, 40 năm về trước.
***
Trịnh Hội là một luật sư Úc gốc Việt. Anh hiện đang làm việc cho VOICE, một tổ chức phi chính phủ hiện đang giúp phát triển xã hội dân sự ở Việt Nam. Bạn có thể liên lạc với anh qua email: trinhhoi2020@gmail.com.
(Nguyễn-Khoa Thái Anh dịch)