Tuesday, June 23, 2015

Gian lận lịch sử của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt


1


TÓM TẮT : 
Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam (VCP) phạm nhiều hành vi gian lận trong quá khứ để đánh lừa người Việt. Kể từ cái chết của Hồ, Đảng Cộng sản đã tiếp tục thực hành gian lận với thái dối trá và lừa dối để che đậy hành vi vô đạo đức và hình sự hoặc để tô điểm thêm hình ảnh của mình cho mục đích tẩy não và nhồi sọ. Bài viết này cho thấy mười sáu hành vi gian lận phạm của Hồ và / hoặc các VCP trong nỗ lực của họ để làm sai lệch lịch sử cho lợi ích riêng của họ từ năm 1930 đến năm 2014. Những gian lận lịch sử có tác động tàn phá đối với nhân dân Việt Nam, đặc biệt là trẻ nhỏ.
 “Một quốc gia mà không biết những gì nó là ngày hôm qua, không biết những gì nó là ngày hôm nay.” Woodrow Wilson (1856 – 1924), Tổng thống thứ 28 của Hoa Kỳ.

GIỚI THIỆU

Gian lận là bản chất cơ bản của Hồ Chí Minh và đã được các phương châm của Đảng Cộng sản Việt Nam (VCP) trong nhiều thập kỷ (Cao-Đắc 2014c). 

Trong cầm quyền Việt Nam, Hồ và ĐCSVN đã sử dụng tất cả các loại thủ thuật, được hỗ trợ bởi bạo lực, để buộc những người đi theo con đường ngoại giao. Một trong những hành vi lừa đảo tàn nhẫn nhất và hèn nhát của họ là hành động gian lận lịch sử.

Trong khi những gian lận lịch sử không trực tiếp ảnh hưởng đến các khía cạnh vật lý của các nạn nhân trong ngắn hạn, sức tàn phá sâu rộng và ảnh hưởng đến toàn bộ dân số đối với nhiều thế hệ. Khi các hành vi gian lận lịch sử được thiết kế, triển khai, thúc đẩy, khuyến khích, và được bảo vệ bởi một chính phủ, thực chất chỉ là một tội phạm nghiêm trọng. 
Hồ và ĐCSVN là những tên tội phạm gây ra tội ác này, được hỗ trợ bởi bạo lực và tàn bạo.
Tội này là tàn nhẫn hơn giết người máu lạnh, bởi vì nó điều khiển ý muốn của nạn nhân và biến nó thành một niềm tin mù quáng để perpertators có thể khai thác năng lực sản xuất của các nạn nhân cho lợi ích riêng của họ. Nó giết chết nhiều thế hệ từ từ và các nạn nhân thường không biết họ đang được âm thầm tra tấn và sẽ chết cái chết chậm. Nó phá hủy tâm trí của nhân dân, làm suy yếu khả năng suy luận, và biến nó thành những công nhân vâng phục vụ những người cai trị.
 Ngay sau đó, niềm tin mù quáng sẽ trở thành nô lệ. Các nạn nhân có thể chất tồn tại nhưng linh hồn và tâm trí của họ thuộc về những người cai trị. Hiệu quả cuối cùng của quá trình này là tai hại: những người một lần bất khuất Việt sẽ được tận diệt.
Tội này là hèn nhát vì đa số nạn nhân là trẻ em vô tội, những người trẻ tuổi, người hiền lành và tử tế, hoặc những người không có phương tiện vật chất hay tinh thần tự vệ. Là lực lượng duy nhất cầm quyền, Đảng Cộng sản cưỡng hiếp tinh thần các em bằng cách tẩy não và các kỹ thuật trong các trường học và các hoạt động xã hội nhồi sọ. Nó sử dụng các lực lượng an ninh của mình để im lặng, với bạo lực và tàn bạo, những người phản đối. Bất đồng chính kiến ​​đang bị tù. Các luồng thông tin bị cấm. Tự do ngôn luận bị hạn chế.

    Trong thế kỷ 21, sự tồn tại của những hành vi gian lận lịch sử và sự tàn bạo kèm theo là một thảm kịch nhân của thứ tự cao nhất. Trong khi một số nạn nhân đã có thể thoát khỏi những thiệt hại về tinh thần giáng xuống trên họ, đa số người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ, vẫn còn bị nhốt trong nhà tù tinh thần của gian lận lịch sử.Phơi bày các gian lận do đó là một bước cần thiết để khôi phục lại sự công bình của người dân Việt. Điều gì sau phơi bày mười sáu gian lận lịch sử quan trọng cam kết của Hồ Chí Minh và đảng cộng sản từ năm 1930 đến năm 2014. Những gian lận có những đặc điểm điển hình của những người cộng sản: tàn bạo, hèn nhát, ác, ngu ngốc, ngu ngốc, và kiêu ngạo.

THE SIXTEEN gian lận LỊCH SỬ
Hiện có hàng ngàn gian lận lịch sử phạm của Hồ và ĐCSVN. Nó sẽ mất một ngàn lượng hoặc hàng chục ngàn trang dày để liệt kê tất cả các incredible gian lận, dối trá, lừa dối và phạm của ĐCSVN và những người tiền nhiệm của nó. Ngoài gian lận lịch sử, Hồ và ĐCSVN cũng cam kết nhiều loại khác của gian lận: chính trị, xã hội, kinh tế, ngoại giao và văn hóa. Một loại đặc biệt của gian lận là sự thờ phượng của Hồ Chí Minh. Trong bài viết này, việc thờ cúng Hồ sẽ không được trình bày đơn giản chỉ vì nó sẽ mất một cuốn sách rất dày để thảo luận về nó.
Mười sáu gian lận lịch sử sau đây đại diện cho mô hình cộng sản gian lận, dối trá, và lừa dối. Trong khi tất cả các gian lận đã được biết đến với mức độ khác nhau của bề rộng và chiều sâu của các học giả và sử gia phương Tây, không phải tất cả trong số họ được biết đến bởi những người Việt sinh sống tại Việt Nam. Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (SRV) đã áp đặt các quy tắc nghiêm ngặt cấm truy cập vào các tài liệu chống cộng sản, tin tức và thông tin trong thế giới tự do trong nhiều năm qua. Ngoài ra, nó có một ngân sách hầu như không giới hạn để trang trải các chi phí tuyên truyền, bao gồm cả việc sản xuất một số lượng vô số các cuốn sách và các tài liệu có chứa các hành vi gian lận trong lịch sử, và những việc làm của một nhân viên rất lớn của các tuyên truyền viên, các nhà phân tích, bình luận, và các học giả mà chính công việc là thực hiện và bảo vệ các hành vi gian lận lịch sử.

  Nhiều người trong số các hành vi gian lận được giới thiệu trong sách giáo khoa trong các trường học hoặc trình bày trong tài liệu chính phủ được phân phối hoặc có sẵn cho công chúng. Các em học những sự kiện lịch sử lừa đảo hay những câu chuyện trong các niềm tin sai lầm rằng họ là đúng sự thật. Ngay cả nhiều người lớn, khi đã trải qua các hệ thống trường học cùng, có niềm tin sai lầm này.
Các gian lận lịch sử bao gồm các hành có ý nghĩa lịch sử và có thể được phân thành các loại sau đây: (1) hoạt động mà ban đầu gian lận hoặc lừa đảo; (2) hoạt động đó bao che, che giấu hành vi vô đạo đức được thực hiện bởi những người cộng sản; (3) các hành vi bóp méo sự thật của sự kiện lịch sử để tôn tạo các hình ảnh cộng sản hay để bôi nhọ lực lượng đối lập hiện tại hay quá khứ (ví dụ, chế độ cũ VNCH) cho mục đích tẩy não và nhồi sọ; (4) các hành vi mà bỏ qua, xem nhẹ, hoặc giảm thiểu tác động của sự kiện lịch sử được xem là gây tổn hại cho những người cộng sản.
  1. Xô Nghệ Tĩnh (1930-1931) đã được ban đầu một cuộc nổi dậy của nông dân, không có sự tham gia, hãy để một mình lãnh đạo, từ cộng sản Đảng.
Một trong những hành vi gian lận sớm nhất theo cam kết của VCP là cái gọi là Liên Xô Nghệ Tĩnh. Theo VCP, “[r] ight sau khi thành lập, Đảng lãnh đạo nhân dân trong cả nước tăng lên cho [cách mạng] đấu tranh, đạt đến đỉnh điểm với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh trong 1930-1931″ (ĐCSVN năm 2012 ). ĐCSVN tuyên bố rằng “[t] ông ban đầu Liên Xô Việt trong lịch sử Đảng ta là sự phát triển rõ ràng đang ở đỉnh cao của cuộc đấu tranh cách mạng của công nhân và nông dân trong cả nước trong 1930-1931″ (ĐCSVN năm 1976, 205).
Trong thực tế, cuộc khởi nghĩa Nghệ Tĩnh ban đầu một cuộc nổi dậy của nông dân, không có sự tham gia, hãy để một mình lãnh đạo, từ Đảng Cộng Sản Đông Dương (ICP), tiền thân của ĐCSVN. Nó cũng không có bất cứ điều gì tương tự như các chính quyền địa phương “Liên Xô”.
Nguyên nhân chính của phong trào “đã được nông dân dis-hài lòng với điều kiện kinh tế” (Duiker 1973, 192). Đặc biệt, ở Nghệ An, “thu hoạch lúa mùa năm 1929 và vụ thu hoạch thứ năm-tháng năm 1930 đều xấu” (Bernal 1981, 157). Các VCP (hoặc ICP tại thời điểm đó) có thể đã miễn cưỡng tham gia chỉ sau khi cuộc nổi dậy trở nên phổ biến bởi vì “[t] ông bên là tổ chức và chuẩn bị về mặt lý thuyết vào năm 1930 cho một cuộc đối đầu quan trọng với quyền lực của Pháp và. . . các lãnh đạo đã nhận thức rõ rằng một cuộc nổi dậy sẽ là quá sớm “(Duiker 1973, 197).Đảng do đó đã “buộc vào vị trí hỗ trợ một cuộc nổi dậy mà nó không thực sự muốn” (ibid.).
Những người nông dân thậm chí không biết những gì búa liềm và cờ đỏ đứng.Nhiều người nghĩ rằng lá cờ này là cờ của chính phủ (ibid., 190). “[E] vidence dường như cho thấy rằng [ICP] lãnh đạo đã không khởi sự Liên Xô, và cũng không nó đã chấp thuận cho họ khi họ xuất hiện, nhưng một khi phong trào đã được tiến hành để họ có thể được hỗ trợ đến cùng” (ibid., 198 ). “Không có hồ sơ của bất kỳ chỉ thị đặc biệt được gửi sang Trung, hãy để một mình đến Nghệ-Tĩnh” (Bernal 1981, 159). “[T] ở đây là hoàn toàn không có dấu hiệu cho thấy các nhà lãnh đạo cảm thấy rằng thời gian đã đúng” (ibid.). Sự tham gia của cộng sản trong cuộc nổi dậy, do đó, chỉ đơn thuần là một phản ứng với một fait accompli (Duiker 1973, 197).
Ngoài unpreparedness của Đảng đối với các cuộc nổi dậy, có một lý do thuyết phục tại sao ĐCSVN không muốn lãnh đạo một phong trào “cách mạng” như vậy.Trong suốt thời gian của cuộc khởi nghĩa, ĐCSVN đã được đổi tên thành ICP trong tháng 10 năm 1930 với sự đốc thúc của Quốc tế cộng sản (Duiker 2000, 187). “[T], ông xuất bản tài liệu của hội nghị [đã] đáng ngạc nhiên ít quan tâm đến các sự kiện diễn ra tại Nghệ-Tĩnh” (Duiker 1973, 193). Nhưng ICP chỉ trích Ban chấp hành vì ủng hộ các hành động đại chúng và nhận xét rằng liên minh giữa công nhân và nông dân trong khu vực đã không thống nhất cao (Duiker 2000, 188). Điều này rõ ràng là không phù hợp với sự phê phán của Quốc tế cộng sản vào năm 1929 là vai trò trung tâm của giai cấp công nhân trong cách mạng Việt Nam đã không đủ nhấn mạnh (ibid., 186).
ĐCSVN đã cố gắng để rút ra những kết nối giữa công nhân và nông dân trong phong trào, nhưng trong thực tế, các cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh thực chất là phong trào nông dân. Số liệu thống kê dân số cho thấy rằng những người trí thức, nông dân và tiểu tư sản bao gồm 73% của các đảng viên ở Nghệ Tĩnh trong tháng 12 năm 1930 (Bernal 1981, 164), khó có một tỷ lệ phần trăm đó sẽ được xem xét khi thuận lợi bởi Quốc tế cộng sản. Các ICP thừa nhận vấn đề này và đưa các chỉ dẫn rằng “vì chưa thực hiện sự chỉ đạo của Đảng trong công cuộc đấu tranh giai cấp trong làng và có những sai lầm hữu khuynh, các hiệp hội nông dân đỏ tuyển phú nông, thậm chí cho phép nông dân giàu tham gia Ban chấp hành” (ĐCSVN 1976, 239).
Lý do tại sao nhiều đảng viên cộng sản đã bị bắt hoặc bị giết trong thời kỳ này là “[m] bất kỳ Pháp ở Đông Dương, từ nhiều năm đã quen với việc đặt một nhãn hiệu Bolshevik trên tất cả các hình thức của chủ nghĩa dân tộc ở Việt Nam, đã nhanh chóng nhìn thấy lãnh đạo cộng sản ở phong trào đình công “(Duiker 1973, 190).Ngoài ra, một thành viên ủy ban, Ngô Đức Trí, “đã bị bắt giữ bởi người Pháp. . . và không chỉ thú nhận bí mật bên, nhưng cũng đưa ra vị trí của các thành viên khác của Ủy ban Trung ương “(ibid, 194;. Dommen 2002, 44). Nói cách khác, các thành viên cộng sản đã bị bắt và bị giết chết trong cuộc nổi dậy không phải vì họ đã lãnh đạo cuộc nổi dậy, nhưng vì người Pháp đã hoàn toàn tin tưởng rằng các cuộc nổi dậy đã được tổ chức bởi họ và do đó đi theo họ.
Vì vậy, làm thế nào được các nhãn hiệu “Liên Xô” dùng để chỉ cuộc khởi nghĩa nông dân này? Đó là bởi vì Hồ (Nguyễn Ái Quốc vào thời điểm đó) vội vàng báo cáo với Quốc tế cộng sản trong tháng 11 năm 1930, “Hiện nay ở một số làng đỏ, Liên Xô nông dân đã được thành lập” (trích trong Nguyễn năm 2001, 75). Trong thực tế, không có chính quyền địa phương như Liên Xô trong làng Nghệ Tĩnh tồn tại. Có hiệp hội nông dân mới được thành lập mà nắm quyền, “thường gọi mình xa bo nong (phần nông thôn) một tên mà vẫn hiện khắp phong trào” (Bernal 1981, 152). Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản “ngay lập tức bắt đầu đề cập đến chúng như là ‘Liên Xô'” (ibid.). Đảng sử gia Việt Nam đã thừa nhận rằng “không có đồng chí vào thời điểm đó nhận được bất kỳ chỉ thị hay nghe bất cứ điều gì về việc thành lập chính phủ Liên Xô [trong những ngôi làng]” (trích trong Nguyễn năm 2001, 75). Vì vậy, tại sao Hồ gọi cuộc nổi dậy của nông dân một phong trào của Liên Xô? Có hai khả năng: (1) Hồ muốn để làm hài lòng cấp trên của mình trong Quốc tế cộng sản, và (2) Quốc tế cộng sản ám Hồ mong muốn của họ để thúc đẩy cộng sản ở các nước khác noi theo gương của những người cộng sản Việt (Nguyễn năm 2001, 76) .
Bất kể điều gì đã khiến Hồ gọi cuộc nổi dậy của Liên Xô, các nhãn của Liên Xô và các đặc tính của các cuộc khởi nghĩa nông dân như các phong trào cách mạng đầu Đảng là hư cấu thuần túy. ĐCSVN chỉ đơn giản tuyên bố tín dụng cho các cuộc nổi dậy của nông dân “, chủ yếu ở dạng các bài báo của các tuyên truyền viên có tay nghề cao Trần Huy Liệu” (Dommen 2002, 44).
Trong thực tế, cái gọi là Liên Xô Nghệ Tĩnh được châm ngòi bởi một phong trào dân tộc bắt đầu bằng những cuộc nổi dậy của Yên Bái (McLane 1966, 147-157, ám chỉ cuộc khởi nghĩa Yên Bái là “Enbay” nổi loạn). Cuộc nổi dậy của Yên Bái và cuộc khởi nghĩa tiếp theo của Đảng Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Nam Quốc Dân Đảng, hoặc VNQDĐ) đã được dập tắt nhanh chóng bởi người Pháp. Nhiều thành viên của VNQDĐ, kể cả lãnh đạo nổi tiếng của Nguyễn Thái Học, đã bị bắt giữ, cố gắng, và thực thi. Các hoạt động cách mạng dân tộc đã được hoan nghênh bởi những người cộng sản Liên Xô (ibid., 148-149). Động lực của cuộc khởi nghĩa Yên Bái lây lan đến các bộ phận khác của Việt Nam và đã dẫn đến nhiều cuộc đình công ở Sài Gòn và các thành phố khác và các cuộc nổi dậy của nông dân tại vùng phía bắc của miền Trung Việt Nam, đặc biệt là các khu vực Nghệ Tĩnh (ibid., 149-150).
Xô Viết Nghệ Tĩnh là một gian lận nghiêm trọng vì không chỉ những người cộng sản Việt Nam nói là tín dụng cho một cái gì đó mà họ không xứng đáng, nhưng họ cũng bỏ qua sự đóng góp đáng kể và sự hy sinh của những người nông dân Nghệ Tĩnh và VNQDĐ.
  1. Việt Minh (1941) là một cái bẫy để lôi kéo những người quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản
Một gian lận chính là sự hình thành của Việt Minh, được thành lập bởi Hồ và các đồng chí của ông tháng 5 năm 1941 tại Pắc Bó dưới sự bảo trợ của ICP. Hồ, một đại lý Quốc tế cộng sản, và các đồng chí cộng sản của ông được hình thành cốt lõi của các nhà lãnh đạo Việt Minh, nhưng họ giấu hiệp hội cộng sản của họ.
Ngay cả tên của Việt Minh (viết tắt cho Việt Nam Độc Lập Đồng Minh) tiến hành một hình ảnh gian lận. Hồ lấy tên này từ một tên tương tự như của các tổ chức được thành lập bởi các quốc gia không cộng sản Hồ Học Lãm ở Nam Kinh vào cuối những năm 1930 (Duiker 1996, 71; Marr 1997, 165, 250). Vay mượn tên của một tổ chức dân tộc sẽ được sử dụng cho một tổ chức cộng sản mới được thành lập là một kẻ lừa đảo đáng khinh. Mục tiêu là rõ ràng: để đánh lừa mọi người tin rằng Việt Minh là một tổ chức dân tộc.
Để phù hợp với tên mới này, Hồ và các đồng chí của ông đã giấu hiệp hội cộng sản của họ và khẳng định rằng “nhu cầu của các hệ tư tưởng và chiến tranh giai cấp đều phải lệ thuộc vào những người trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc cho độc lập dân tộc” (Duiker 1996, 71). Với chiến lược mới này, Hồ và các đồng chí của ông hoan nghênh tất cả các yếu tố pariotic vào mặt trước chống lại kẻ thù chung (ibid., 71-72) “Không phải chỉ có giai cấp tư sản và nông dân giàu có, nhưng địa chủ giàu có, thương nhân Trung Quốc ở nước ngoài, và người Pháp yêu nước được coi là đồng minh tiềm năng “(Duiker 1996, 72). Để ngăn chặn nguy hiểm gây ra bởi sự chấp nhận của các nhóm khác nhau như vậy, Hồ cho Đảng để kiểm soát quyền lực trong tổ chức trước. Tuy nhiên, Hồ “thực hiện một nỗ lực rất lớn để che giấu vai trò của Đảng [] để tối đa hóa hấp dẫn của mặt trước để ôn” (sđd.).
Các nhà lãnh đạo dân tộc Việt là “khôn ngoan đủ để nhận ra Việt Minh như một cái bẫy cộng sản” (Buttinger 1967, 265) và từ chối tham gia. Tuy nhiên, “Việt Minh đã không được thiết kế để thu hút các nhà lãnh đạo quốc gia, nhưng những người của họ. . . điều động họ về mặt chính trị cho đến khi họ bị buộc phải hợp tác với Đảng Cộng sản “(ibid., 266). Bản chất lừa đảo của Việt Minh đã làm tệ “niềm tin rằng để thành công về mặt chính trị, nó là cần thiết để không chỉ là tàn nhẫn, nhưng cũng là dối trá và vô đạo đức như những người Cộng sản đã dường như luôn luôn được” (ibid.).
  1. Cái gọi là Cách mạng tháng Tám (1945) chỉ là một kết quả của một số sự kiện bất ngờ chủ yếu gây ra bởi sự bất ngờ “lực chân không” sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh.
Chính phủ của SRV gọi Cách mạng Tháng Tám “một chiến thắng của các vai trò tích cực trong việc chuẩn bị các lực lượng, các nghệ thuật của việc tạo ra các cơ hội, nắm lấy cơ hội và hành động kiên quyết” (Chinhphu 2014). Nó tuyên bố rằng “sự thành công của Cách mạng tháng Tám không về lợi dụng” quyền lực chân không ‘khi xem bởi một số học giả nước ngoài, “nhưng là về việc chuẩn bị cho đến khi cơ hội đến khi Nhật Bản phát xít đầu hàng Đồng Minh và người Pháp bị suy yếu (ibid.).
Bất kể sự hùng biện cộng sản, sự kiện lịch sử không nói dối. Thực tế cho thấy việc bắt giữ thành công của cộng sản điện là do “một số tình huống tình cờ” (Duiker 1996, 104), bao gồm: (1) “sự xuất hiện chậm trễ của Allied lực lượng chiếm đóng sau khi Nhật Bản đầu hàng [rằng] tạo ra một chân không chính trị tại các đòn bẩy của quyền lực “(Duiker 1996, 104); (2) sự nhầm lẫn tổng thể liên quan đến tương lai của Việt Nam trong thời gian khoảng thời gian khi Nhật đầu hàng (Vũ 1986, 312); (3) những nỗ lực của chính phủ Trần Trọng Kim để đạt được hoàn toàn độc lập và thống nhất lãnh thổ của Nhật Bản (ibid, 313.); (4) Nạn đói lớn của Ất Dậu rằng “cung cấp những cảm giác tuyệt vọng cho những người Cộng sản vào làng và thúc đẩy các cuộc nổi dậy của nông thôn” (Duiker 1996, 104-105); (5) chiến thuật sắc sảo của Việt Minh của quyền đòi phải có sự hỗ trợ của quân Đồng minh; (6) “divisions phe phái và khu vực” giữa các bên dân tộc khác nhau (Duiker 2000, 105); và (7) các cuộc đảo chính của Nhật lật đổ Pháp tháng 3 năm 1945 và loại bỏ sự hiện diện quân sự của Pháp ở Việt Nam cho đến năm 1946.
Vào thời điểm đó, Mỹ muốn thiết lập một mạng ở Đông Dương để chiến đấu chống lại Nhật Bản và bãi bỏ hệ thống thuộc địa của Pháp (Lacouture 1968, 267-268). Những việc làm của Mỹ Hồ như một đại lý để cung cấp thông tin tình báo về các Nhật Bản cũng là tài liệu (Xem, ví dụ, Bartholomew-Feis 2006, 166, 209). Sự trợ giúp của Mỹ cho Việt Minh Hồ là do không có nghĩa đáng kể từ một quan điểm quân sự, nhưng nó cung cấp Hồ với một vũ khí tâm lý mạnh mẽ để giành chiến thắng trong đức tin và sự tự tin của người dân Việt.
Hồ khai thác vũ khí tâm lý này đến mức tối đa bao gồm cả sử dụng mánh khóe rẻ tiền. . Năm 1945, tại một cuộc họp với Mỹ Thiếu Tướng Claire Chennault, Hồ hỏi cho một bức ảnh có chữ ký của Tổng (Bartholomew-Feis 2006, 157-158; Logevall 2012, 84), để ông có thể sử dụng nó như là bằng chứng về sự ủng hộ của Mỹ , vẫy nó “giống như một cây đũa thần về chuyến đi của mình trong khu vực” (Logevall 2012, 84). Trong tháng Tám năm 1945, “chữ ký hình ảnh Hồ của chung Chennault được hiển thị nổi bật” (Jamieson 1995, 193). Như một mặt lưu ý, trick của mình bằng cách sử dụng hình ảnh có chữ ký của người có quyền lực để gây ấn tượng với người khác không phải lúc nào uccessful. Năm 1950, ông hỏi Stalin ký một chân dung (hoặc một tạp chí), nhưng Stalin, một bậc thầy cộng sản tà ác, xuất hiện để biết lừa Hồ và có những bức ảnh có chữ ký hoặc tạp chí đưa trở lại (Brocheux 2007, 145; Duiker 2000, 421). Tuy nhiên, không có sự khẳng định về sự giúp đỡ của Mỹ, thu giữ của chính phủ của Việt Minh sẽ không có nổi lên một cách nhanh chóng và mạnh mẽ (Lacouture 1968, 269).
Ngoài ra, chính phủ Trần Trọng Kim, được hình thành vào ngày 17 tháng 4 năm 1945, thực sự đã mở đường cho một sức mạnh tiếp quản sau khi Nhật Bản đầu hàng. Trong thực tế, “Hồ là người thụ hưởng chính của những thành tựu của Kim” (Vũ 1986, 316). Trước ngày 17 tháng 8 và đầu hàng trước, người Nhật đã quyết định cung cấp cho toàn độc lập và thống nhất lãnh thổ Việt Nam. Các kỷ lục cho thấy rằng “Kim thu được thống nhất lãnh thổ của đất nước ngay trước khi đầu hàng bất ngờ của Nhật Bản, và quan trọng hơn, đó là bước chuẩn bị khác nhau đã được thực hiện trong Thuận-hoa và Nam Bo để thực hiện thống nhất như vậy” (ibid., 314) . Cần lưu ý rằng đó là người đã từ chối đề nghị Kim của một số cấp chỉ huy của Nhật Bản sử dụng quân đội Nhật Bản để nghiền nát Việt Minh (ibid., 315).
“Sự đóng góp không thể phủ nhận của chính quyền Kim” với cái gọi là Cách mạng tháng Tám, trớ trêu thay, đã động viên mình tham gia chính trị quần chúng “, bao gồm các cuộc biểu tình đường phố, các cuộc họp, và các cuộc tuần hành mà giống một tinh thần độc lập văn hóa và chính trị” (ibid., 313) . Quan trọng hơn, “một thế hệ thanh niên Việt đã được huy động dưới sự bảo trợ của cả hai chính phủ Kim và các nhà chức trách Nhật Bản” (ibid.). “Dự án thanh thiếu niên Kim đã cung cấp cho Việt Minh với hàng chục ngàn người trẻ là để phục vụ cờ của ICP trong tên của độc lập dân tộc và thống nhất hơn trong tên của chủ nghĩa Mác-Lênin” (ibid.).
Các sự kiện thực tế đã diễn ra không giống như một cuộc cách mạng ở tất cả. Ngày 17 tháng 8 năm 1945, tại Hà Nội, cán bộ Việt Minh bị xáo trộn một cuộc biểu tình hàng loạt do Hiệp hội những công chức, ban đầu nhằm kỷ niệm độc lập và thống nhất lãnh thổ và hỗ trợ của chính phủ Kim của tổ chức, và đã thành công kiểm soát của nó (Vũ 1986, 313; Duiker 2000, 310-311; Marr 1996, 382-387). “Không hạn chế bởi cảnh sát Nhật Bản, đám đông được lưu hành qua các đường phố, vẫy các biểu ngữ và hô to những khẩu hiệu,” nhưng ít người “đã có một ý tưởng rõ ràng về bản chất của phong trào Việt Minh, nay tuyên bố đại diện cho lợi ích của tất cả các dân tộc Việt Nam” (Duiker 2000 , 312).
  1. Hồ khai của độc lập (1945) lừa dối người dân Việt vì Hồ đã lên kế hoạch bán ra Việt Nam sang Pháp hai tháng trước đó.
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh đọc một bài diễn văn tuyên bố độc lập, vay từ trong Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ và Tuyên bố về các quyền của con người và của công dân từ cuộc Cách mạng Pháp. Ông lên án gay gắt “nhân vật tàn bạo và phi dân chủ của chế độ thực dân Pháp” (Duiker 1996, 104).
Trong thực tế, Hồ đã thực sự sẵn sàng để bán ra ngoài Việt Nam, ngay cả khi người Pháp là một lực lượng bất lực ở Việt Nam. Vào tháng Bảy năm 1945, ông “đề nghị tái lập tạm thời thống trị của Pháp cho đến khi nền độc lập của Việt Nam đã được đảm bảo. . . trong khoảng thời gian 5-10 năm “(Huyền 1971, 72-73; Sainteny năm 1972, 43, fn **). Đề xuất này ngay cả khi người Pháp vẫn còn dưới sự kiểm soát của Nhật Bản, rõ ràng cho thấy rằng tuyên bố độc lập của Hồ chỉ là lừa Hồ để giành chiến thắng trong trái tim của người dân Việt. Cần lưu ý rằng tuyên bố độc lập của Hồ chỉ là như vậy, một tuyên bố, không hơn không kém. Nó không có nghĩa là độc lập của Việt Nam đã được đảm bảo. Hồ hiểu điều đó rất tốt, như giao dịch của mình với người Trung Quốc và người Pháp sau đó tiết lộ. Tháng 7 năm 1945 đề xuất của ông, do đó, vẫn còn tươi mới trong tâm trí của mình khi ông đọc bài phát biểu của mình vào ngày 02 tháng chín.
Ngoài ra, cùng với Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp lừa dối người dân Việt bằng cách tuyên bố để có sự hỗ trợ của quân Đồng minh. Giáp, ngay sau khi bài phát biểu của Hồ nhân, bài phát biểu của mình, tuyên bố: “Hoa Kỳ… Đã đóng góp lớn nhất cho cuộc chiến Việt Nam chống lại phát xít Nhật, kẻ thù của chúng ta, và vì vậy Mỹ Republic tuyệt vời là một người bạn tốt của chúng ta “(Xem, ví dụ, Cao Đắc-2014b, cho một danh sách các tài liệu tham khảo). Kêu gọi sự hỗ trợ đáng kể của Mỹ “các [đóng góp] lớn nhất đối với cuộc chiến Việt Nam chống lại phát xít Nhật” là một lời nói dối trắng trợn.
  1. “Tuần lễ vàng” (1945) là một ngụy trang cho lấy vàng và tiền bạc của nhân dân để hối lộ Trung Quốc và Tổng Lu Han 
Ngày 28 Tháng 8 1945, bốn đội quân Kuomingtan “tổng cộng 180.000 người đàn ông dưới sự chỉ huy của tướng Lu Han, vượt qua biên giới Bắc Kỳ” (Huyền năm 1971, 97) trong nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Ngày 14 Tháng 9 năm 1945, quân đội Trung Quốc Kuomingtan vào Bắc Việt Nam (Willbanks 2009, 8). Hồ và các đồng chí của mình, đặc biệt là Võ Nguyên Giáp, đã lo lắng rằng quân đội Trung Quốc là mối đe dọa nghiêm trọng đối với những người Cộng sản, vì chỉ huy của họ “đã phát triển một mối quan hệ thân thiện với các đối thủ của ICP, các Minh Hoi Dong và VNQDD” (Duiker 1996, 115 ; Marr 1996, 499).
Hồ và các đồng chí của ông đã tổ chức Tuần lễ Vàng (“Tuần lễ vàng”) trong thời gian 16-ngày 22 tháng 9 năm 1945, “hấp dẫn cho mọi người để biến vàng và có giá trị khác để chính phủ có thể mua vũ khí từ Trung Quốc” (Willbanks 2009, 8).”Tuần lễ vàng” đưa vào “400 kg hoặc 800 kg vàng và 20 triệu [Đông Dương] piasters” (Huyền 1971, 100). Tổng giá trị của vàng và tiền mặt từ các “Tuần lễ vàng” là khoảng $ 33.000.000 trong năm 2014. Không nhiều, nhưng nó là một tài sản cho người dân nghèo ở miền Bắc Việt Nam vào năm 1945.
Điều gì là vàng và thu tiền sử dụng cho? Theo các tài khoản cộng sản “, số tiền này được sử dụng để giúp các chính phủ để giải quyết các vấn đề tài chính tại thời điểm đó, việc mua vũ khí để xây dựng lực lượng quốc phòng” (QĐND 2010).Trong thực tế, “số lượng lớn [tặng thu] đã được sử dụng để mua chuộc những người cư ngụ của Trung Quốc” (Huyền 1971, 100; Willbanks 2009, 8). Đặc biệt, khi “đến Lu Han tại Hà Nội, Hồ đã chào đón anh ta với một món quà tuyệt vời, một thuốc phiện vàng hút thuốc thiết lập vững chắc” (Huyền 1971, 100; cũng Buttinger 1967, 634 N79; Harrison năm 1989, 107).
Hối lộ của Trung Quốc Hồ đã giúp giảm sự căng thẳng giữa những người cộng sản và người Trung Quốc chiếm đóng. Nó cũng tạo điều kiện giao dịch của mình với các bên dân tộc khác nhau của Việt Nam.
  1. Việc giải thể Đảng Cộng sản Đông Dương (1945) đã được thiết kế để xoa dịu quân đội Quốc Dân Đảng chiếm đóng và khác nhau bên dân tộc Việt 
Dưới áp lực của các dân tộc người tìm thấy sự hỗ trợ của Trung Quốc Quốc Dân Đảng, Hồ giải tán ICP năm 1945. Việc giải thể là để loại bỏ tên “cộng sản” từ Hiệp hội Hồ để tránh sự xuất hiện của liên kết cộng.
Trong thực tế, “sự tan rã của ICP là chỉ là một thủ Hồ” (Huyền 1971, 103). Đảng tiếp tục công việc của mình theo tên Hiệp hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác (Hội nghiên cứu chủ nghĩa Marx) (Duiker 2000, 349-350). Đảng đã chính thức refounded với một tên mới, Đảng Lao Động Việt Nam ‘(VWP – Đảng Lao động Việt Nam) vào năm 1951 sau khi Hồ vững chắc bảo đảm sự ủng hộ của Trung Quốc cộng sản và Liên Xô.
Việc giải thể của ICP trong năm 1945 là hành vi gian dối tuyệt vọng để “trấn an các lệnh của Trung Quốc về bản chất dân tộc chủ nghĩa của chính phủ Việt Minh và để làm cho nó hấp dẫn hơn cho phi Cộng sản Việt Nam” (Huyền 1971, 103). Nó cũng được sử dụng để kháng cáo đến Hoa Kỳ để được giúp đỡ. Việc giải thể Công ICP “đã phục vụ để bôi trơn các cuộc đàm phán hòa bình” (Duiker 2000, 350).Tổng Xiao Wen đã tổ chức một cuộc họp giữa các đại diện của các đảng cộng sản và các thành viên của đảng dân tộc chủ nghĩa. “Các bên đồng ý về nguyên tắc việc thành lập một chính phủ liên minh rộng rãi gồm các thành viên của nhiều tổ chức” (Duiker 2000, 350).
Các nỗ lực của Hồ và ĐCSVN ở ẩn hiệp hội cộng sản thật sự của họ trong khi Hồ là người lãnh đạo của cái gọi là phong trào cách mạng cho thấy rõ ràng bản chất lừa đảo của họ.
  1. Các thỏa thuận Sainteny (1946) đã giúp hợp pháp hóa các chính phủ cộng sản và sử dụng tiếng Pháp để giúp trong việc loại bỏ các dân tộc 
Các thỏa thuận đã ký giữa Hồ và Jean Sainteny trên 6 Tháng ba 1946, cho phép quân đội Pháp để trở về Bắc Việt Nam là một gian lận đôi. Trên bề mặt, nó trông giống như Hồ thừa nhận với Pháp bằng cách cho phép họ để mang lại 25.000 quân vào Bắc Việt Nam để đổi lấy sự công nhận Pháp của nước Cộng hòa Dân chủ Việt Nam (DRV) như là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và khối Liên hiệp Pháp (Huyền 1971, 123, 131; Logevall 2012, 133).
Trong thực tế, nó là một hành động lừa đảo được thiết kế bởi Hồ và Đảng của ông, hoạt động như Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác, để đạt được hai mục tiêu chính: (i) để đạt được công nhận là lực lượng chính trị Việt Nam chính thức duy nhất tại Việt Nam (Logevall 2012, 135), và (ii) để sử dụng sức mạnh quân sự của Pháp trong việc loại bỏ các bên dân tộc đối thủ.
Hồ và Đảng của ông biết rằng soán ngôi quyền lực của họ trong tháng 8 năm 1945 là bất hợp pháp bởi vì nó không có hỗ trợ thực sự từ người dân. Các cuộc bầu cử nói chung trên 06 tháng 1 năm 1946 đã gian lận với rất nhiều sai phạm (Huyền 1971, 107-110) rằng Hồ và Đảng của ông đã tìm mọi cách để khẳng định giá trị của họ. Thỏa thuận Hồ-Sainteny sẽ cung cấp cho thế giới và nhân dân Việt Nam một cảm giác rằng chính phủ không chỉ Hồ là hợp pháp, nhưng nó cũng là lực lượng chính trị duy nhất đại diện cho Việt Nam. Ngoài ra, các dân tộc đã trở thành ngày càng đe dọa, đặc biệt là với sự hỗ trợ của Trung Quốc chiếm đóng. Trong khi giả vờ thừa 70 chỗ ngồi để các dân tộc trong quốc hội, Hồ và Đảng của ông đã được chuẩn bị một cách bí mật để loại bỏ lực lượng của họ. Pháp sẽ được vui mừng để cung cấp một bàn tay trong quá trình xóa này vì họ cũng sẽ dập tắt một lực lượng đối lập.
Để cung cấp cho sự xuất hiện rằng ông không muốn ký hợp đồng Sainteny, Hồ nói rằng ông thà ngửi đi tiêu Pháp trong một thời gian hơn so với ăn excrements Trung Quốc cho phần còn lại của cuộc đời mình (Logevall 2012, 133). Trong thực tế, ông đã biết Pháp sẽ trở về Bắc Việt Nam có hoặc không có hợp đồng với Sainteny và Trung Quốc sẽ để lại Bắc Việt Nam sớm. Ông đã được nhận thức của các cuộc đàm phán Trung-Pháp ở Trùng Khánh, mà kết quả trong một hiệp ước về ngày 28 tháng 2 năm 1946 (Huyền 1971, 111). Theo hiệp ước Trung-Pháp này, trao đổi với nhiều ưu đãi từ Pháp, Trung Quốc đồng ý rút quân khỏi Đông Dương trong tháng Ba, năm 1946 (Huyền 1971, 111). Trong thực tế, một lực lượng của một số 21.000 người đàn ông từ lần thứ IX của Sư đoàn bộ binh thuộc địa và Division Armored thứ hai của Pháp đã được gửi đi trên tàu chiến từ Sài Gòn đi Bắc vào cuối tháng 2 năm 1946 (Logevall 2012, 132). Các thỏa thuận Sainteny, do đó, chỉ đơn thuần là bảo đảm người Pháp rằng các lực lượng Việt sẽ không tham gia vào các hoạt động thù địch với người Pháp.
Với sự giúp đỡ của quân đội Pháp, Việt Minh dưới sự chỉ huy của Võ Nguyên Giáp bị giết một cách hệ thống hàng ngàn người quốc gia vào năm 1946 (Huyền 1971, 163). Cuộc thảm sát của người quốc gia và các nhà lãnh đạo quốc gia trong tương lai cũng là tài liệu (Xem, ví dụ, Cao Đắc-2014b). Khi chiến tranh nổ ra giữa Pháp và Việt Minh vào tháng Mười Hai năm 1946, “nó không phải ngẫu nhiên mà Hồ trở thành lãnh đạo của các kháng đáng kể duy nhất” vì “[h] e đã giết chết gần như tất cả những người khác” (Nixon năm 1985, 35) .
  1. Điện Biên Phủ thắng lợi (1954) đã đạt được nhờ vào sự hỗ trợ của Trung Quốc và sự đóng góp của nông dân Việt Nam, người đã hứa hẹn sở hữu đất đai,
Trận Điện Biên Phủ (1954) đã được ca ngợi bởi các chính phủ cộng sản như là một chiến thắng trái đất rung. Theo chính phủ cộng sản, chiến thắng được “ghi nhận trong lịch sử của nhân dân Việt Nam như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một chiến thắng Đống Đa trong thế kỷ 20″ (Chính phủ CHXHCNVN). Tuyên bố này là một sự bóp méo trắng trợn của sự kiện lịch sử. Cách cân bằng cuộc chiến Điện Biên Phủ đến Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa và những trận đánh là thiếu tôn trọng tuyệt đối với lịch sử của Việt Nam và một sự xúc phạm không thể tha thứ cho Ngô Quyền, Lê Lợi và Nguyễn Huệ. Trận Điện Biên Phủ là gì so với những trận chiến trong mọi khía cạnh.
Trận Điện Biên Phủ là chỉ đơn giản là một trận chiến quyết định bởi người Trung Quốc cộng sản tại các chi phí của hàng chục ngàn sinh mạng của người dân Việt.Sự hỗ trợ của Trung Quốc cho Việt Minh trong trận Điện Biên Phủ đã được biết đến rộng rãi (Xem, ví dụ, Cao Đắc-2014b).
Huy động lực lượng hỗ trợ hậu cần, Đảng Hồ dựa chủ yếu vào nông dân nghèo với lời kêu gọi lòng yêu nước và những lời hứa của đất trong các chiến dịch cải cách ruộng đất (Zhai 2000, 38, 41-42). Cuối cùng, những người cộng sản đã huy động một lực lượng lớn cung cấp gần 300.000 nhờ các cuộc gọi lừa đảo cho lòng yêu nước mà buộc người lao động trí tuệ và hợp tác để chống Pháp (Xem, ví dụ, Cao Đắc-2014b cho một danh sách các tài liệu tham khảo) . Với năm bộ phận của 47.500 binh sĩ và viện trợ quân sự khổng lồ từ Trung Quốc cộng sản, được hỗ trợ bởi lực cung rất lớn, Việt Minh bao vây Điện Biên Phủ, bảo vệ bởi một lực lượng kết hợp của một số 20.000 quân chiến đấu, cho năm mươi lăm ngày. Điện Biên Phủ sụp đổ vào ngày 07 tháng 5, năm 1954. Việt Minh thương vong ước tính đạt 7.900 người chết và 15.000 người bị thương trong khi thiệt hại của Pháp là 2.204 người chết, 6.452 người bị thương và 3.610 mất tích (mùa Thu 2002, 484, 487).
Với số liệu thống kê như vậy, làm thế nào dám VCP so sánh Điện Biên Phủ với Bạch Đằng, Chi Lăng hay Đống Đa? Người nước ngoài không quen thuộc với những Bạch Đằng, Chi Lăng hay Đống Đa trận chiến có thể nghĩ rằng những trận đánh lịch sử tương tự như các trận chiến Điện Biên Phủ về bản chất của cuộc chiến (bao vây một pháo đài trong 55 ngày), vận động lớn của những người lính và lực lượng hậu cần hỗ trợ chống lại một lực lượng kẻ thù nhỏ (350.000 so với 20.000), thương vong (23.000 so với 9.000), và viện trợ nước ngoài nặng. Những loại Bonehead nghĩ như một cách để xúc phạm người Việt và các anh hùng dân tộc Ngô Quyền, Lê Lợi và Nguyễn Huệ?
Trận Điện Biên Phủ cũng là một cơ hội cho các VCP để tôn làm thần Võ Nguyên Giáp. Trong thực tế, sự tàn ác của Giáp, coi thường mạng sống của con người (bao gồm cả những người lính của mình), khả năng, và hèn nhát đã được nổi tiếng (Xem, ví dụ, Cao Đắc-2014b cho các nguồn khác nhau; Đặng 2013).
Ngày 13 Tháng 10 năm 2013, đám tang của Giáp đã được tổ chức với quy-lát và lộng lẫy. Hàng chục ngàn người đưa tiễn lót lên đường cao tốc đến sân bay, nơi các quan tài đã được đưa tới nhà ông Tỉnh. Hàng ngàn người công khai kêu lên. Gần một năm sau, một hình ảnh hoàn toàn khác nhau nổi lên. Ngày 2 Tháng 9 năm 2014, bộ phim “Sống cùng với lịch sử”, “hoàn toàn tài trợ bởi tiền của Nhà nước” vào khoảng $ 21 tỷ đồng (khoảng $ 1.000.000 $) và với nội dung ca ngợi chiến thắng Điện Biên Phủ và Võ Nguyên Giáp, là rạp phát hành tại Hà Nội. Chỉ sau vài ngày, buổi chiếu phim đã được ngừng lại bởi vì nó thu hút một chỉ 2, 3 khán giả bộ phim mỗi ngày (Tuổi 2014b). Nhiều thắc mắc tại sao hàng chục ngàn người đã bỏ vào xếp các đường cao tốc và khóc dolorously trong tang lễ của Giáp nhưng chỉ có một vài người đi xem một bộ phim tôn vinh Người.
  1. Các cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu (1956) là một cuộc nổi dậy quy mô lớn đòi hỏi toàn bộ một sư đoàn quân đội Việt Bắc để ngăn chặn nó, nhưng VCP xem nhẹ cường độ của nó, bóp méo nguyên nhân của nó, và không đề cập về sự đàn áp tàn bạo.
Trong tháng 11 năm 1956, nông dân từ các huyện Quỳnh Lưu ở Nghệ An, chủ yếu là người Công giáo, bắt đầu một cuộc nổi dậy kéo dài trong vài ngày. Những người nông dân biểu tình phản đối “việc tạm giữ người thân và tịch thu tài sản bị cáo buộc có liên quan đến các chương trình cải cách ruộng đất, việc từ chối quyền di chuyển miền Nam. . ., Và những hình phạt nặng nề gây ra trên những người đã cố gắng để di chuyển “(Nutt 1970, 3). Vấn đề thực sự “bắt đầu xuất hiện vào năm 1955, khi những người phản đối cho rằng họ đã bị ngăn chặn bởi các quan chức chính phủ từ di cư vào Nam” (Duiker 2000, 486-487). Các “người dân địa phương có tiếng là người đàn ông tự hào và độc lập” (JUSPAO 1966, 1), nhưng các “cán bộ Đảng thường xuyên lên án các nhà lãnh đạo Công giáo địa phương như phản động và phá hoại” (Duiker 2000, 487).
Trong một khoảng thời gian vài ngày, nông dân, “một số 20.000 trong tất cả, cầm gươm và nông cụ ngạc nhiên bảo vệ Cộng sản, mất vũ khí của họ và thu giữ một số cài đặt chính phủ huyện” (JUSPAO 1966). Khẩu hiệu phản đối của họ, khá giống với hiện đang sử dụng tại Việt Nam, bao gồm “Down với các quốc gia cộng sản bán!” Và “Hãy để chúng tôi lái xe quân đội Cộng sản Trung Quốc từ Bắc Việt Nam!” (Moyar 2006, 63). Tuy nhiên, không giống như tình hình hiện nay ở Việt Nam, nơi các lực lượng an ninh và cảnh sát ngoan ngoãn làm theo các hướng dẫn của chính phủ, trong Quỳnh Lưu “nhiều binh sĩ, bản thân từ gia đình nông dân, công khai hay ngầm đứng về phía quân nổi dậy” (JUSPAO 1966, 2). Một số đơn vị dân quân từ các huyện Quỳnh Lưu “gia nhập quân nổi dậy en masse” (ibid.).
Hà Nội ngay lập tức gửi toàn bộ một sư đoàn quân đội đến khu vực này, đầu tiên các Sư đoàn 304, sau đó tham gia của các yếu tố của một tiểu đoàn pháo binh và hai trung đoàn (JUSPAO 1966, 3). Nó cũng đã được báo cáo rằng “Giáp đã gởi đơn vị của mình gần nhất, Sư đoàn 325, để đàn áp các cuộc nổi dậy” (Currey 1999, 222). Các binh sĩ quân đội nhanh chóng bị đàn áp các cuộc nổi dậy. “Đơn vị tàn nhẫn của tướng Giáp bị giết hoặc bị thương hơn một ngàn nông dân” (Currey 1999, 222). Họ thậm chí còn “bắn bừa bãi vào những người đàn ông, phụ nữ và trẻ em” (Nutt 1970, 3). “Ở đỉnh cao của hoạt động khoảng 20.000 quân chiến đấu Bắc Việt là trong lĩnh vực tìm kiếm ra 2.000 hoặc quá nổi dậy đã chạy trốn đến những ngọn đồi” (JUSPAO 1966, 3). “Cuối cùng, hầu hết các phần tử nổi dậy đã bị giết hoặc bị bắt mặc dù vài trăm trong số họ đã trốn thoát đến Nam Việt Nam” (JUSPAO 1966). Ngoài ra, các lực lượng chính phủ bắt giữ và trục xuất hơn sáu nghìn để làm việc và các trại cải tạo (Currey 1999, 222).
Trong khi bản chất tàn bạo của những người cộng sản đã không hoàn toàn bất ngờ, phản ứng nhanh chóng và to lớn đã hơi ngạc nhiên. Hóa ra đó là lý do cho sự đàn áp tàn bạo và nhanh chóng là để cho thấy người Trung Quốc rằng tất cả mọi thứ đã được kiểm soát. “Ngày 18 tháng 11, một phái đoàn Trung Quốc do Chu Ân Lai đến Hà Nội” (Ang 1997, 42). Mặc dù lần Zhou mặt tại Hà Nội đã không được quảng cáo, nó “được biết đến về trước” (ibid.). Chính phủ VNDCCH, trong sự háo hức của mình để làm hài lòng tổng thể của Trung Quốc của nó, không muốn lo lắng Zhou với một số nông dân nổi dậy.
Vì những lý do hiển nhiên, ĐCSVN đã giảm bớt cường độ của cuộc nổi dậy. Một bài báo cộng sản đã báo cáo rằng các cuộc nổi dậy là một sơ đồ bố trí bởi người Mỹ và chính phủ Nam Việt Nam. “Mỹ-Diệm đạo phản động người, nhân danh tôn giáo, đã lợi dụng các quyền tự do tôn giáo để xuyên tạc chính sách của chúng tôi sửa lỗi trong cải cách ruộng đất và kích động dân số Công giáo, gây ra cuộc nổi dậy bạo động ở Quỳnh Lưu” (Lê 2004) . Không có báo cáo về các vụ giết người của nông dân và việc trục xuất hàng ngàn phần tử nổi dậy bị bắt để làm việc và các trại cải tạo.
Các cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu năm 1956 cũng tương tự như các cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh năm 1930 ở nhiều khía cạnh: vị trí địa lý (Nghệ An), quân nổi dậy (nông dân), cường độ, bạo lực, và sự đàn áp tàn bạo. Tuy nhiên, trong thế giới cộng sản, các cuộc nổi dậy Quỳnh Lưu đã bị lãng quên trong khi các cuộc nổi dậy Nghệ Tĩnh đã được tuyên bố với vinh quang là do lãnh đạo giỏi của ĐCSVN.
Công văn 10 Phạm Văn Đồng của Trung Quốc (1958) cho thấy một trong hai nhân vật phản bội của VCP hoặc thực hành vi lừa đảo của mình cho đồng minh của mình.
Các vụ việc liên quan đến văn Phạm Văn Đồng của Trung Quốc để đồng ý với các tuyên bố của Trung Quốc về lãnh hải được biết đến rộng rãi. Giá trị pháp lý của chữ Đồng vẫn còn đang tranh cãi, nhưng giá trị pháp lý của chữ đó không phải là vấn đề ở đây.
Các tranh chấp đảo có thể được hiểu theo hai cách khác nhau, theo Hồ và niềm tin đồng chí của mình trong tình trạng sở hữu của các đảo vào thời điểm đó. Nếu họ tin rằng các quần đảo thuộc về VNDCCH lúc đó, sau đó thư Đồng là bằng chứng rõ ràng về hành động phản bội của họ đã bí mật bán một phần lãnh thổ của đất nước họ ra nước ngoài để đổi lấy “bạn tốt” giữa hai nước. Nếu họ không tin các đảo thuộc về VNDCCH tại thời điểm và áp đảo thuộc về Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) thay vào đó, sau đó thư Đồng là bằng chứng rõ ràng về hành vi lừa đảo của mình cho người khác, ngay cả người bạn thân nhất của họ. Trong cả hai trường hợp, Hồ và các đồng chí của ông đã hành động thiếu đạo đức và vi phạm các yếu tố cơ bản của niềm tin và sự trung thực trong việc đối phó với người dân của họ hoặc với các nước khác trong các vấn đề quốc tế.
Chính phủ của SRV có thể hoặc không thể áp dụng một cách hợp pháp trong vụ tranh chấp quần đảo, nhưng họ không thể chiến thắng được về mặt đạo đức.
  1. Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam (1960) là một thiết bị tạo ra bởi các VCP nhưng VCP phủ nhận điều này cho đến sau khi họ chiếm miền Nam năm 1975 
Năm 1960, những người cộng sản ở miền Bắc được thành lập và điều khiển các trận Dân tộc Giải phóng (MTGP) và Provisionary Chính phủ Cách mạng của nó (PRG) nhưng đã bị từ chối quan hệ của họ với quân giải phóng cho năm (Joes 2001, 49). Chỉ sau khi Bắc Việt Nam xâm lăng miền Nam Việt Nam đã công khai thừa nhận rằng họ “[t] ông Provisionary Chính phủ Cách mạng luôn đơn giản là một nhóm phát ra từ VNDCCH” (trích trong Trường năm 1986, 268).
Có lẽ một trong những hành vi gian lận tồi tệ nhất theo cam kết của VCP sắp đối mặt với người dân của họ, NFL và PRG. “Sau chiến thắng năm 1975, Mặt trận và các PRG không chỉ không có vai trò hơn nữa để chơi; họ đã trở thành một trở ngại tích cực để củng cố quyền nơi “(Trường năm 1986, 268). Theo lời của cựu bộ trưởng tư pháp của PRG, “với tổng số quyền lực trong tay, họ bắt đầu để hiển thị các thẻ của họ trong thời trang tàn bạo nhất” (ibid.).
  1. Chiến tranh Việt Nam (1954-1975) đã được tiến hành bởi Hồ và ĐCSVN bằng lừa dối người dân ở miền Bắc và tạo ra sự chia rẽ và hận thù giữa các dân tộc Việt Nam.
Các gian lận tồi tệ nhất, và bạo lực đã được sử dụng để che phủ lên các gian lận và / hoặc để thăng tiến các mục tiêu cộng sản, cam kết của Hồ và ĐCSVN, là kế hoạch xấu xa của họ trong tiến hành chiến tranh chống lại Nam Việt Nam và Hoa Kỳ. Chương trình này là ác vì nó đã lợi dụng tình yêu huynh đệ từ bi của người Việt và biến nó thành một sự hận thù sâu đậm đối với các đế quốc tưởng tượng và chính phủ bù nhìn trong tên của lòng yêu nước. Kết quả là các chất thải của hàng triệu sinh mạng.
Hồ và ĐCSVN thực hiện gian lận trắng trợn của họ bằng những lời dối trá và lừa dối. Để người dân ở miền Bắc Việt Nam, họ vẽ những bức tranh của Nam Việt Nam là một quốc gia bị áp bức bởi một chính phủ xấu xa người sử dụng một đơn vị trực thuộc đội quân rất lớn cho người Mỹ chủ nghĩa đế quốc. Nhiều người miền Bắc tin rằng Nam Việt Nam là một đất nước nghèo mà nhân dân đã bị cướp bởi những người lính Việt Nam và họ đã có các nghĩa vụ cao để giải phóng anh em của họ khỏi sự đàn áp và chấm dứt khổ đau của họ (Herrington 1982, 192). “Các nhà lãnh đạo Hà Nội đã thực hiện một công việc đầy ấn tượng của bán dân Bắc Việt vào sứ mệnh thiêng liêng của anh em miền Nam tiết kiệm của mình từ các ly hợp của chủ nghĩa đế quốc” (ibid., 264).
Dương Thu Hương, một nhà văn và một nhà đấu tranh chính trị, đã bị sốc tại các sự lừa dối của cộng sản khi cô chứng kiến ​​điều kiện ở Nam Việt Nam so với miền Bắc vào năm 1975. Cô nói, “Sau khi vào Nam, tôi nhận ra rằng chế độ ở miền Bắc là một chế độ man rợ vì nó làm mù mắt người dân và bao gồm tai của họ “(Đinh 2012).
  1. Lê Văn Tám (1945) và Nguyễn Văn Bé (1967) cho thấy sự cố tâm lý ngu ngốc của những người cộng sản trong chế tạo những hình ảnh anh hùng để phục vụ MỤC TIÊU của họ.
Những câu chuyện về Lê Văn Tám và Nguyễn Văn Bé đều nổi tiếng (Xem, ví dụ, Nguyên 2013; Southerland 1971; Phan 2009). Những người cộng sản coi họ thành anh hùng đã hy sinh cuộc sống của họ trong các cuộc chiến tranh chống Pháp và Mỹ, và nâng chúng để chết vì đạo. Vấn đề là có những yếu tố hư cấu trong câu chuyện của họ. Lê Văn Tám là một nhân vật bịa đặt với một hành động anh hùng tưởng tượng dựa trên một sự cố thực tế và Nguyễn Văn Bé là một người thực sự có một câu chuyện hư cấu. Những người cộng sản Việt đã nói dối và làm nên những câu chuyện về họ. Không có những người thực sự đã chết và không có hành vi anh hùng đã được tiến hành.
Mặc dù có những bằng chứng không thể chối cãi của những lời nói dối, chính phủ của SRV vẫn giữ hình ảnh anh hùng của họ. Câu chuyện Lê Văn Tám đã được kể lại trong cuốn sách học tập tại các trường tiểu học. Một số trường học, quỹ học bổng, tượng đài, công viên, đường phố, và nhiều địa điểm địa lý trên khắp Việt Nam được mang tên ông. Một số đường phố có tên là Nguyễn Văn Bé đã được thay đổi sau năm 1975, nhưng vẫn có một số trường học có tên là Nguyễn Văn Bé.
Tâm lý cộng sản là không thể hiểu nổi. Bằng cách giữ tên của anh hùng chế tạo cho các trường học, đường phố và công viên, chính phủ của SRV khuyến khích việc thực hành vi gian lận, dối trá, và lừa dối. Họ gợi ý cho những người mà những câu chuyện về các anh hùng, liệt sĩ cộng sản khác cũng có thể được chế tạo. Một mặt, sự ngu ngốc này là thực sự tốt, vì nó là sự thật rằng nhiều câu chuyện về anh hùng cộng sản được chế tạo. Mặt khác, những thiệt hại thảm khốc vì anh hùng thực sự trong lịch sử có thể bị giả định xấu tương tự. Các thông điệp rõ ràng nó muốn gửi đến các trẻ em là, “Đó là OK để nói dối, miễn là nó phục vụ cho mục tiêu của cách mạng và tôn vinh tinh thần anh dũng của nhân dân Việt Nam.” Không có thắc mắc sinh viên Việt ghét học lịch sử. Đối với họ, Hai Bà Trưng, ​​Ngô Quyền, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Huệ và nhiều anh hùng dân tộc khác chỉ có thể là ký tự chế tạo, giống như Lê Văn Tám; hoặc họ có thể là những người thực sự nhưng hành vi anh hùng của họ là hư cấu, giống như những người của Nguyễn Văn Bé.
  1. Vụ UNESCO (1989) không chỉ lừa dối người dân Việt mà còn mang lại sự xấu hổ quốc gia về Việt Nam khi Hồ Chí Minh được đánh giá kém hơn một học giả Thái.
Năm 1987, chính phủ của SRV thông UNESCO Việt Nam sẽ tổ chức sinh nhật lần thứ 100 của Hồ vào ngày 19 tháng 5 năm 1990, và nói rằng Hồ là một người đàn ông tuyệt vời của văn hóa từ Việt Nam (Bùi 2006, 82). UNESCO chỉ đơn thuần thông qua nghị quyết đề nghị các nước thành viên tham gia trong lễ kỷ niệm một trăm năm ngày sinh Hồ của ông viết rằng “năm 1990 sẽ đánh dấu một trăm năm ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh hùng Việt giải phóng dân tộc và con người vĩ đại của nền văn hóa” (Bùi 2006, 81-83; UNESCO năm 1987, 134-135).
Bởi rõ ràng bằng cách sử dụng tính từ “Việt” ở đầu của cụm từ để đủ điều kiện toàn bộ cụm từ, UNESCO chỉ đơn giản lặp đi lặp lại những gì chính phủ của SRV yêu cầu rằng Hồ Chí Minh là một anh hùng giải phóng dân tộc Việt và một người đàn ông tuyệt vời của văn hóa Việt. Tất nhiên ông là một anh hùng và người đàn ông tuyệt vời để những người cộng sản của cộng sản Việt Nam, cùng một cách như Hitler là một anh hùng và người đàn ông tuyệt vời để phát xít Đức Quốc Xã, Kim Jong Il đến Bắc Triều Tiên của Bắc Triều Tiên, Mao Trạch Đông với Trung Quốc cộng sản của Trung Quốc, và Stalin để cộng sản Xô Viết của Liên Xô trong suốt cuộc đời của họ.
Mặc dù có chỉ định rõ ràng này, các quan chức cộng sản Việt Nam, dù là do vô minh, ngu dốt, hoặc hiểu sai ý, giải thích cụm từ UNESCO là “anh hùng Việt giải phóng dân tộc và thế giới / người đàn ông lớn quốc tế của văn hóa.” (Nhấn mạnh thêm.) Các tên gọi của Hồ là một trong những “người đàn ông vĩ đại của nền văn hóa thế giới” được bao gồm trong sách giáo khoa được sử dụng trong các trường học ở Việt Nam. (“Hồ Chí Minh cũng là một người đàn ông tuyệt vời trên thế giới văn hóa, một nhà thơ vĩ đại – Hồ Chí Minh còn be a Danh nhân văn hoá thế giới, one nhà thơ lớn”) (BGDĐT 2011a, 141). Những tuyên bố rằng Hồ là một “người đàn ông nổi tiếng thế giới của văn hóa” được công bố trong phương tiện truyền thông của chính phủ (Chinhphu 2010; Trương 2014).
UNESCO rõ ràng từ chối công nhận Hồ là một con người vĩ đại của nền văn hóa quốc tế. Thay vào đó, UNESCO công nhận là công dân Thái Lan là một học giả văn học thế giới trong cuộc họp này và bao gồm tuyên bố này trong cùng một phần. Đây là một bằng chứng cụ thể rằng Hồ, một người đứng đầu nhà nước, được đánh giá là kém hơn so với một công dân Thái.
Trong toàn bộ phần phụ (sub-section 18,65) ở độ phân giải, UNESCO chỉ được sử dụng những từ như “công dân” và “Việt” để mô tả Hồ. Ngoài ra, UNESCO cẩn thận diễn đạt các hành động được “lưu ý” và “xem xét”. Ngược lại, trong các tiểu mục dành cho một trăm năm ngày sinh của Phya Anuman Rajadhon, một học giả Thái, UNESCO tuyên bố “Công nhận rằng Phya Anuman Rajadhon là một học giả lớn có đóng góp cho văn học thế giới sẽ luôn được nhớ đến và đánh giá cao, và là ánh sáng dẫn đường thời với ông và các thế hệ tiếp theo hướng tới chân, thiện và vẻ đẹp “(UNESCO năm 1987, 133. nhấn mạnh trong bản gốc).
Việc sử dụng các từ “công nhận” và “thế giới văn học” trong việc mô tả Phya Anuman Rajadhon rõ ràng là một sự tương phản rõ rệt với các từ “lưu ý”, “xem xét” và “quốc gia” mô tả Hồ. Kể từ khi UNESCO sử dụng “công nhận” và “thế giới văn học” cho Phya Anuman Rajadhon nhưng không cho Hồ Chí Minh trong cùng một phần trong cuộc họp này, rõ ràng là UNESCO từ chối “nhận ra” Hồ vì những đóng góp trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và nghệ thuật, thậm chí ở Việt Nam, chúng ta hãy xem xét một mình Hồ cho rằng tầm cỡ thế giới tại / cấp độ quốc tế. Chắc chắn, công nhận Hồ vì những đóng góp cho thế giới văn hóa là điều không thể.
Đó là tâm-boggling rằng chính phủ của SRV không thể hiểu được những khác biệt đơn giản. Xem xét thực tế là Phya Anuman Rajadhon chỉ đơn thuần là một học giả Thái và Hồ Chí Minh là một đầu Việt của nhà nước, sự việc này nên được coi là một sự sỉ nhục quốc gia. Thay vào đó, chính phủ của SRV bóp méo UNESCO tuyên bố, tự hào trong đó và lây lan nó trên khắp đất nước. Trong khi thế giới, và đặc biệt là Thái Lan, được cười tại Việt Nam, người dân Việt khoe khoang về Hồ là một “người đàn ông nổi tiếng thế giới của văn hóa.” Ngoài việc sử dụng của một người không xứng đáng để đại diện cho nền văn hóa của Việt Nam, chính phủ của SRV xấu đi tình hình bằng cách bóp méo sự thật để đánh lừa người dân.
Có xấu hổ nghiêm trọng hơn là chính phủ của SRV có thể mang lại cho người dân Việt Nam?
  1. Các bộ phim truyền hình “Mậu Thân 1968″ (2013) của đạo diễn Lê Phong Lan là một nỗ lực tuyệt vọng để xóa tội không kể xiết của những người cộng sản.
Ngày 25 Tháng 1 năm 2013, các đài truyền hình Việt Nam VTV1 bắt đầu phát sóng series 12 phần “Mậu Thân 1968″ được thực hiện bởi đạo diễn Lê Phong Lan (Lê 2013). Theo Lê Phong Lan, cô đã đi du lịch qua lại giữa Việt Nam và Mỹ trong 10 năm và “đã gặp và phỏng vấn khoảng 200 nhân chứng” từ tất cả các bên (cộng sản, Mỹ, và Việt Nam Cộng Hòa) để tìm kiếm sự thật (Lê 2013 ). Đáng buồn thay, sự thật cô đang tìm kiếm, trong thực tế, chỉ đơn thuần là một nỗ lực tuyệt vọng trong xóa tội không kể xiết của những người cộng sản. Amusingly, các series “Mậu Thân 1968″ xuất hiện để cho thấy rằng nó là khoảng thời gian cho những người cộng sản để mang lại “sự thật” với ánh sáng sau 45 năm im lặng. Ai có thể tin rằng những người cộng sản bao giờ đã sẵn sàng để được im lặng trong 45 năm khi họ nghĩ rằng họ đã “vu cáo”? Tuyên truyền là một kỹ năng mà họ đã luôn tự hào và họ đã có được trong sự im lặng trong 45 năm?

   Ngang nhiên, phần 8, có tựa đề “Bài hát ấn tượng,” phủ nhận vụ thảm sát Huế đã được gây ra bởi những người Cộng sản Việt Nam, và thay vì đổ lỗi cho vụ đánh bom của Mỹ và quân đội VNCH. Trong một clip, phỏng vấn Lê Phong Lan Nguyễn Đắc Xuân, người nói rằng vụ thảm sát là do các cuộc tấn công tâm lý của các clip RVN.The trích dẫn lời của học giả người Mỹ Noam Chomsky, Edward S. Herman, và D. Gareth Porter đã bày tỏ rằng chôn cất trong ngôi mộ tập thể là do các vụ đánh bom của Mỹ và VNCH trả đũa chống lại thiện cảm với cộng khi họ tái chiếm Huế, và một số các cơ quan này thuộc về những người lính cộng sản đã chết trong cuộc chiến. Dòng này của quốc phòng không có công đức. Mọi người đều biết Nguyễn Đắc Xuân là một trong những kẻ giết người đã giết các công dân của Huế. Kẻ giết người khác bao gồm Hoàng Phủ Ngọc Tường, Hoàng Phủ Ngọc Phan và Nguyễn Thị Đoan Trinh. Các phỏng vấn một chiều của một kẻ giết người bị cáo buộc về tội giết người, ông bị cáo buộc cam kết là một hành động phản cảm trong một bộ phim tài liệu lịch sử. Chỉ trích từ các học giả phản chiến về chiến tranh là một nỗ lực khá ngu ngốc của những người muốn viết lại lịch sử.
Vì vậy, nó không có gì ngạc nhiên khi bộ phim “Mậu Thân 1968″ không bao giờ đề cập đến các nhân chứng quan trọng nhất và tài liệu về vụ thảm sát Mậu Thân: Tiến sĩ Alje Vennema và cuốn sách có tựa đề “The Vietcong Massacre tại Huế” và xuất bản năm 1976 (Vennema 1976 ). Tiến sĩ Alje Vennema, một cảm tình của phong trào chống chiến tranh, là nhân chứng đáng tin cậy nhất trong vụ thảm sát Mậu Thân vì bản thân ông tham gia trong việc định vị các gravesites và kiểm tra phần còn lại của nạn nhân để xác định nguyên nhân của cái chết với độ chính xác của một y tế bác sĩ. Thậm chí D. Gareth Porter, các nhà sử học Ameican chống chiến tranh người bảo vệ những người cộng sản, thừa nhận rằng tiến sĩ Vennema là một nhân chứng. Porter, tuy nhiên, sử dụng các báo cáo trái ngược với báo cáo của Tiến sĩ Vennema.

   Trong cuốn sách của mình, Tiến sĩ Vennema mô tả chi tiết trong các gravesites, số lượng các cơ quan, và làm thế nào các nạn nhân đã chết. Ngoại trừ một vài trường hợp nạn nhân có thể đã chết do chiến tranh, vết thương trưng bày hầu hết do thực hiện, nhiều người với tay bị trói và giẻ nhét vào miệng. Tiến sĩ Vennema tự hỏi, “[D] id những người đàn ông của Mặt trận và các cố vấn của họ tại Hà Nội cho rằng họ có quyền giết, nếu như bất cứ con người có quyền giết người đồng bào của mình?” (Vennema 1976, 183) . “Không có vấn đề gì họ hy vọng đạt được, những bi kịch của Huế sẽ mãi mãi là một bản cáo trạng về hành vi của họ” (ibid.). Tiến sĩ Vennema nhấn mạnh rằng không có sai lầm trong mỗi của các vụ giết người. “Các vụ giết người đã không được thực hiện trong cơn giận dữ, sợ hãi, hoặc jusr trước khi rút lui;. Họ đã có chủ ý Hầu hết trong số họ đã được đánh dấu người có tên đã lên danh sách để bị tiêu diệt, những người khác bởi vì chúng được kết nối với các lực lượng vũ trang hoặc với chính quyền Sài Gòn “(ibid., 184).
Ngoài cuốn sách của Tiến sĩ Vennema, có hàng trăm nhân chứng và các tài liệu cho thấy các vụ thảm sát Mậu Thân năm 1968 là một vụ giết người hàng loạt tàn bạo gây ra bởi những người cộng sản sau các chính sách cộng sản ở Hà Nội. Chi tiết về các gravesites và các cơ quan và các nguồn khác nhau được ghi nhận một cách cẩn thận (Xem, ví dụ, Vennema 1976; Cao-Đắc 2014a, 367-374).
Tiến sĩ Vennema qua đời vào năm 2011 tại British Columbia, Canada. Nếu Lê Phong Lan là chân thành trong nỗ lực của mình để tìm kiếm sự thật “trong 10 năm qua”, cô sẽ phỏng vấn ông khi ông còn sống, hoặc ít nhất là cô nên đã tham khảo ý cuốn sách của ông. Lê Phong Lan tuyên bố, “Somebody hỏi tôi nếu tôi thực hiện bộ phim tài liệu này một cách công bằng, tôi muốn trả lời rằng tôi phải công bằng vì đây là về nghề nghiệp của tôi và tên tốt của tôi” (Lê 2013). Lê Phong Lan thực sự đã đưa ra một ý nghĩa mới cho từ “công bằng” hay cô đã coi thường tên tốt của cô, nếu cô ấy có một.
  1. Các cuộc triển lãm của cải cách ruộng đất 1946-1957 (2014) đã cố gắng để che đậy tội giết chết hơn 170.000 người dân vô tội:
Ngày ngày 08 tháng 9 năm 2014, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đã mở triển lãm của Cải cách ruộng đất 1946-1957 với thông báo: “Cuộc triển lãm mang tên Cải cách ruộng đất 1946-1957 là một hoạt động góp phần vào việc tuyên truyền và giáo dục của khối công cộng, đặc biệt thế hệ trẻ để họ có thể có một cái nhìn chính xác hơn về cách mạng ruộng đất trong giải phóng của nhân dân ta trong 1946 – 1957 “(Dân năm 2014). Triển lãm trưng bày gần 150 sản phẩm, tài liệu gốc, và hình ảnh về chương trình cải cách ruộng đất ở miền Bắc Việt Nam trong những năm 1950, nhưng không có màn hình hiển thị của bất kỳ mặt hàng về việc thực hiện của hơn 170.000 nạn nhân.
Triển lãm được dự kiến ​​sẽ mở cửa cho công chúng cho đến cuối năm 2014. Tuy nhiên, chỉ sau 4 ngày, triển lãm đã được đóng lại với một lý do đặc biệt của một số “vấn đề điện” (Tuổi 2014a). Việc đóng cửa đột ngột của triển lãm cho thấy rằng đảng cộng sản đã nhận ra sự ngu ngốc của nó khi nó cố gắng để che đậy tội ác của thực hơn 170.000 nạn nhân vô tội. Thời gian này, VCP không còn có thể lừa dối mọi người bằng những lời gian dối vì sự thật về các chiến dịch cải cách ruộng đất đã được biết đến rộng rãi thông qua các phương tiện thông tin truyền thông và Internet.
Triển lãm mở cửa lên các vết thương của vụ thảm sát dã man người vô tội trong những thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử Việt Nam. Nó nhắc nhở người thân sống của các nạn nhân của cơn đau mà họ đã phải chịu đựng trong hơn một nửa thế kỷ.Tại sao chính phủ của SRV muốn làm điều đó?

  KẾT LUẬN
ĐCSVN đã tồn tại trong hơn tám mươi năm nhờ vào ba yếu tố: sự gian lận, tàn bạo, và may mắn. Không có gì có thể làm về may mắn là. Nó cũng khó để thay đổi các đặc tính tàn bạo của cộng sản. Nhưng gian lận là liên kết yếu nhất của nó. Nó có thể được tiếp xúc.
ĐCSVN đã không bao giờ thực sự thừa nhận họ phạm những hành vi gian lận lịch sử. 
 Điều này cho thấy rằng họ sẽ tiếp tục gian lận phạm và các hành vi tội phạm.Trong thực tế, đó là chính xác những gì đang xảy ra ngay bây giờ ở Việt Nam. Hơn nữa, nó cần có thời gian cho một gian lận để được khám phá. Dù VCP đang làm hiện nay có thể không được biết đến cho đến hai mươi, ba mươi hay năm mươi năm sau. Hai mươi năm sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, tổng số thương vong của Bắc Việt Nam cuối cùng đã được tiết lộ. Năm mươi năm sau khi cải cách ruộng đất đẫm máu, VCP tiết lộ tổng số chủ đất thực hiện. Sáu mươi năm sau khi vụ việc Lê Văn Tám, những câu chuyện có thật nổi lên. Theo hệ thống độc đảng, không có một cơ chế kiểm tra và cân bằng, không có cách nào cho người dân Việt để biết chính phủ của họ đang làm.

   Các phong trào “Chúng tôi muốn biết”, đưa ra bởi mạng lưới các blogger Việt trong tháng 9 năm 2014 (Dân 2014b), đòi hỏi chính phủ phải đáp ứng cho công chúng về các vấn đề có ảnh hưởng đến chủ quyền của đất nước. Với một nền văn hóa sâu sắc về hành vi gian lận và dối trá, cùng với bản chất tàn bạo và độc ác của nó, xác suất của VCP nhận yêu cầu này là hầu như không có. Tuy nhiên, phong trào “Chúng tôi muốn biết” có vẻ là một ngụy trang khéo léo, vô tình hay cố ý, cho một phong trào mạnh hơn hoặc một chiến thuật để đánh lạc hướng hoặc gây nhầm lẫn cho ĐCSVN. Dù ý định của mình, có gì các VCP có thể làm cho những người chỉ đơn giản muốn biết những gì đang xảy ra với đất nước là. Ít nhất là nó là một thông điệp to và rõ ràng để các VCP rằng người Việt không còn động vật ăn cỏ sợ hãi của những con linh cẩu ác.
Các phong trào “Chúng tôi muốn biết” mặc nhiên có một phong trào chị em bổ sung chạy song song: các “Chúng tôi không hề muốn biết” hay phong trào “We Do not Care biết”. Phong trào chị em này là hướng về gian lận lịch sử mà che đậy tội ác trong quá khứ bởi các VCP hoặc bóp méo sự thật để tôn tạo các hình ảnh của cộng sản.
Cả hai động gửi tin nhắn âm thanh to và rõ ràng cho ĐCSVN.
Trong thực tế, người dân Việt đã hét to và rõ ràng thông điệp “Chúng tôi không hề muốn biết” hay “We Do not Care biết” tại các gian lận lịch sử của bộ phim “Sống Cùng Lịch Sử” và triển lãm cải cách ruộng đất .

  Tiếp theo, sẽ có những tiếng la hét to và rõ ràng từ dân số trẻ Việt.
Những người trẻ tuổi ở Việt Nam, đặc biệt là sinh viên đại học, đã thường bị chỉ trích là không quan tâm đến tình hình hiện nay ở Việt Nam và vì có mối quan tâm chút về tương lai của đất nước. Lời chỉ trích này là tiếp tục làm sâu sắc thêm bởi các cuộc biểu tình sinh viên lãnh đạo ủng hộ dân chủ ở Hồng Kông, được mệnh danh là chiến dịch Chiếm Trung ương hoặc Revolution Umbrella. Trong khi những lời chỉ trích này cũng có phần đúng ở chỗ nó phản ánh sự thờ ơ rõ ràng hoặc không hành động của những người trẻ tuổi trong cuộc biểu tình chống lại sự xâm lăng của Trung Quốc ở Biển Đông và các cuộc biểu tình ủng hộ dân chủ khác, nó có thể là không công bằng. Là nạn nhân, những người trẻ tuổi ở Việt Nam đầu tiên cần phải phá vỡ các chuỗi và xiềng xích mà khóa lên tâm trí của họ và tự giải phóng mình khỏi nhà tù tinh thần của những người cộng sản. Quá trình này cần có thời gian.Nó có thể được nhanh chóng, trong một vài tuần hay vài tháng, hoặc chậm, trong một vài năm. Nhưng nó có thể được thực hiện. Thật vậy, nhiều người trẻ đã cho thấy rằng họ đã trốn thoát khỏi nhà tù cộng sản tinh thần và bây giờ đang đấu tranh cho dân chủ.

  Một khi họ được tự do, họ sẽ đánh giá cao ý nghĩa của lòng yêu nước. Hai Bà Trưng, ​​Ngô Quyền, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Huệ sẽ không còn là chỉ có tên trong sách lịch sử hay nhân vật trong các vở kịch hay phim ảnh. Các Diên Hồng Quốc hội, các trận Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa sẽ không còn là sự kiện chỉ đơn thuần là nhàm chán của một quá khứ xa xôi. Họ sẽ đột nhiên nhận ra lịch sử Việt Nam là một phần của cuộc sống của họ, những gì làm cho họ bây giờ họ là ai, và những người con của họ sẽ được.
Sau đó, không được nói, họ sẽ đứng lên và hành động.

    Vâng, sẽ có những tiếng la hét to và rõ ràng từ dân số trẻ Việt. Tiếng la hét của họ sẽ giống như gầm hùng vĩ của những con sư tử trẻ và lionesses người trở lại để lấy lại đất đai của họ từ những con linh cẩu ác.

  Và họ sẽ không chỉ hét lên tin nhắn. Họ sẽ đi cùng các thông điệp của họ bằng những hành động cụ thể.

Cao-Đắc Tuấn ( danlambaovn)
____________________________________

  THAM KHẢO
Ang, Cheng Guan. 1997. Quan hệ Cộng Sản Việt ‘với Trung Quốc và Đông Dương Conflict Thứ hai, 1956-1962. McFarland & Company, North Carolina, USA
Bartholomew-Feis, Dixee. 2006. OSS và Hồ Chí Minh: Đồng minh bất ngờ trong cuộc chiến tranh chống Nhật. Đại học Kansas, Kansas, USA
Bernal, Martin. 1981. Nghệ-Tĩnh Phong trào Xô 1930-1931. Quá khứ và hiện tại, số 92 (1), 148-168.
BGDĐT (Bộ Giáo dục Đào tạo and). 2011. Ngữ Văn 7 tập 1 (Ngôn ngữ, lớp 7, vol. 1). Nguyễn Khắc Phi (trưởng Ed.). Phiên bản thứ tám, Giáo Dục Việt Nam, Hà Nội, Việt Nam.
Brocheux, Pierre. 2007. Hồ Chí Minh: A Biography. Dịch bởi Claire Duiker, Cambridge University Press, New York, USA
Buttinger, Joseph. 1967. Việt Nam: một con rồng khổng lồ này. Tập I – Từ thực dân đến Việt Minh. Frederick A. Praeger, New York, USA
Bùi Tín. 2006. Bùi Tín tâm tình with the tuổi trẻ Việt Nam (Bùi Tín trong nói chuyện tim-to-trái tim với giới trẻ Việt Nam). Tiếng Việt Nhà xuất bản Consortium, Virginia, USA
Cao-Đắc, Tuấn. 2014a. Cháy Trong the Rain. Hellgate Press, Oregon, USA
Cao-Đắc, Tuấn. 2014b. “Không White Flag.” 2014/05/07.
Cao-Đắc, Tuấn. 2014c. Kỹ năng diễn xuất của Hồ Chí Minh trong con mắt của các học giả phương Tây. 2014/08/21. http://danlambaovn.blogspot.com/2014/08/ho-chi-minhs-acting-skill-in-eyes-of.html (truy cập 2014/09/30).
Chính Phủ CHXHCNVN. Ngày không xác định. Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ toàn thắng, hiệp định Giơnevơ been ký kết.
Chinhphu. 2010. Trao tặng bản Nghị quyết UNESCO tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Posted 02 Tháng 10 năm 2010.
Chinhphu. 2014. Cách mạng tháng Tám: Bài học lịch sử, giá trị tương lai.2014/09/01.
Currey, Cecil B. 1999. Victory ở bất kỳ chi phí. Potomac Sách, Inc, Washington, DC, USA
Dân Làm Báo. 2014a. Cuộc triển lãm those oan hồn. 2014/09/11.
Dân Làm Báo. 2014b. Thư của Mạng các blogger Việt Nam về phong trào “Chúng tôi muốn biết”. 2014/09/17.
Dommen, Arthur J. 2002. Kinh nghiệm của Đông Dương của Pháp và Mỹ: Chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa cộng sản ở Campuchia, Lào và Việt Nam. Indiana University Press, Indiana, USA
Duiker, William J. 1973. Red Xô Viết Nghệ Tĩnh-: Một cuộc nổi dậy cộng sản sớm ở Việt Nam. J. Nghiên cứu Đông Nam Á, Vol. 4, số 2 (tháng 9 1973), 186-198.
_____. 1996. The Road Cộng sản để điện tại Việt Nam. Westview Press, Colorado, USA
_____. 2000. Hồ Chí Minh – Một cuộc đời, Hyperion, New York, USA
Đặng Chí Hùng. 2013. Những sự thật have known (phần 19) – Sự thật về Võ Nguyên Giáp. Nguyên văn 2013/09/05, đăng lại 2014/09/24.
ĐCSVN (Đảng cộng sản Việt Nam). 1976. Những Sự Kiện Lịch Sử Đảng, Tập I (1920-1945) (Tài khoản / Thông tin về Lịch sử Đảng – Tập I (1920-1945)). Ban nghiên cứu lịch sử Đảng trung ương (Ủy ban nghiên cứu về lịch sử của Trung ương Đảng). Sự Thật, Hà Nội, Việt Nam.
ĐCSVN. 2012. Kỷ niệm 82 năm Xô Viết Nghệ Tĩnh, khánh thành khu di tích lịch sử Xô Viết ngã ba Nghèn (Kỷ niệm anniversay 82 của Liên Xô Nghệ Tĩnh, ra mắt các di tích lịch sử Xô Viết trong những đường ngã ba Nghèn). Posted 12 Tháng Chín 2012.
http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30106&cn_id=542908 (truy cập ngày 21 tháng 9 2014 / truy cập 21-9-2014).
Đinh Quang Anh Thái. 2012. Dương Thu Hương: “30 tháng Tư 75, nền văn Minh have thua chế độ man ro.” 2012/04/17.
Fall, Bernard B. 2002. Hell trong một nơi rất nhỏ: Cuộc bao vây Điện Biên Phủ, Da Capo Press, USA
Harrison, James P. 1989. The Endless War: Cuộc đấu tranh của Việt Nam giành độc lập. Columbia University Press, New York, USA
Herrington, Stuart A. 1982. Stalking Việt Cộng – Bên trong Operation Phoenix: Một tài khoản cá nhân. Presidio Press, New York, USA
Huyền, N. Khắc. 1971. Vision được hoàn thành? The Enigma của Hồ Chí Minh.Công ty Macmillan, New York, USA
Jamieson, Neil L. 1995. Hiểu Việt Nam. University of California Press, California, USA
Joes, Anthony James. 2001. Cuộc chiến cho Nam Việt Nam, 1954-1975. Praeger Publishers, Connecticut, USA
JUSPAO. 1966. Quynh Luu Bắc Việt Nam khởi nghĩa, ngày 13 tháng 11, 1956. Added 16 tháng năm 2002.
Lacouture, Jean. 1968. Hồ Chí Minh: A Biography chính trị. Dịch từ tiếng Pháp bởi Peter Wiles. Dịch edited by Jane Clark Seitz. Random House, New York, USA
Lê Tâm. Năm 2013. Lần đầu tiên khai mở bí mật về Mậu Thân 1968. 2013/01/23.
Lê Văn Hối. 2004. Dép bạo loạn out Quỳnh Lưu. Trích QĐND 25-10-2004.
Logevall, Fredrik. 2012. Embers of War. Random House, New York, USA
Marr, David G. 1997. Việt Nam 1945: The Quest for Power. In bìa mềm đầu tiên.University of California Press, California, USA
McLane, Charles B. 1966. Chiến lược của Liên Xô ở Đông Nam Á – một khám phá của chính sách Đông dưới Lenin và Stalin. Princeton University Press, New Jersey, USA
Moyar, Mark. 2006. Triumph Forsaken – Chiến tranh Việt Nam, 1954-1965.Cambridge University Press, New York, USA
Nguyên Anh. 2013. Anh hùng Nguyễn Văn Bé!? 2013/11/14.
Nguyễn Minh Cần. 2001. Đảng Cộng Sản Việt Nam qua those Biến Động Phong Trào in Cộng Sản Quốc Tế (Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá náo loạn của Phong trào Quốc tế cộng sản). Tuổi Xanh. Địa điểm không rõ.
Nixon, Richard. 1985. No More của Việt Nam. Avon Books, New York, USA
Nutt, Anita Lauve. 1970. Trên Câu hỏi của hành động trả đũa Cộng sản ở Việt Nam.
Phan Huy Lê. 2009. Trả lại sự thật hình tượng Lê Văn Tám. Bài đăng Tạp chí Xưa on the & Nay số ra tháng 10 năm 2009.
QĐND. 2010b. Nhớ “Tuần lễ vàng”, think về “lòng dân” (Hãy nhớ “Tuần lễ vàng”, suy nghĩ về “trái tim của người dân”). Posted 28 Tháng tám 2010.
Southerland, Daniel. 1971. Christian Science Monitor vấn đề ngày 08 tháng 6, 1971. Cũng có sẵn như là văn bản dịch “Vẽ and clean anh hung,” dịch bởi Trần Quốc Việt. 2012/12/02. http://danlambaovn.blogspot.com/2012/12/ve-va-xoa-anh-hung.html (truy cập 2014/09/23).
Trương Như Tảng. 1986. Một Vietcong Memoir. Với David Chanoff và Đoàn Văn Toại. Sách Vintage, New York, USA
Trương Tấn Sang. 2014. Diễn văn of Chủ tịch nước nhân Chiến thắng Điện Biên Phủ. 2014/05/07.
Tuổi Trẻ. 2014a. Triển lãm Cải cách ruộng đất: Cần sòng phẳng for lịch sử.2014/09/09.
_____. 2014b. Đầu tư tiền tỉ, phim “chết” khi ra rạp. 2014/09/19.
UNESCO. 1987. Hồ sơ của Đại hội đồng, Hai mươi tư Session, Paris, Tập I – Nghị quyết trên. Năm 1987.http://unesdoc.unesco.org/images/0007/000769/076995E.pdf (truy cập 2014/09/25).
Vennema, Alje. 1976. Việt Cộng thảm sát tại Huế, Vantage Press, New York, USA, 1976.
Vũ Ngự Chiêu. 1986. Phía bên kia của cuộc Cách mạng 1945Vietnamese: The Empire của Việt Nam (tháng ba-tháng tám năm 1945). Tạp chí Nghiên cứu châu Á XLV, số 2 (tháng 2 năm 1986), 293-328.
Zhai, Qiang. 2000. Trung Quốc và các cuộc chiến tranh Việt Nam, 1950 – 1975 Trường Đại học North Carolina Press, Bắc Carolina, Hoa Kỳ
Willbanks, James H. 2009. Việt Nam War Almanac. Thông tin về File, Inc., New York, USA