Tuesday, November 17, 2015

Những Lời Nói, Thái Độ và Hành Vi Can Đảm Để Đời


Dân tộc Việt Nam là một dân tộc anh hùng. Lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước đã ghi lại nhiều tấm gương lẫm liệt, những lời nói can trường, những thái độ hào hùng của những anh hùng hào kiệt, những anh thư cao quý làm rạng danh người Việt Nam. Nếu không có những tấm gương can đảm, hy sinh, đất nước Việt Nam không có hy vọng đứng vững mà đã bị ngoại bang và các thế lực đen tối vùi dập, đô hộ.
Những tấm gương bất khuất có thể là một lời nói uy dũng, một thái độ uy nghi, hào sảng, một hành vi vô uý không biết sợ. Tất cả đã làm nên cá tính và bản chất bất khuất, hào hùng cuả con người Việt Nam mà những giống dân khác trên địa cầu không dễ gì có được. Sông núi Việt Nam sẽ bền vững, con người Việt Nam sẽ trường tồn mãi mãi với thời gian bởi cách ứng xử khôn ngoan, quả cảm, anh hùng của người Việt Nam.
   Chúng ta có bổn phận ôn lại những chuyện cao đẹp, bất khuất này để cho con cháu noi theo và làm rạng rỡ hơn nưã giống nòi cao quý Việt Nam.
Sách “Việt Nam sử lược“ của Sử gia Trần trọng Kim kể rằng:
“Năm Giáp Ngọ (34) là năm Kiến Võ thứ 10, vua Quang Vũ sai Tô Định sang làm thái thú quận Giao chỉ.
Tô Định là người bạo ngược, chính trị tàn ác, người Giao Chỉ đã có lòng oán hận lắm. Năm Canh Tý (40) người ấy lại giết Thi Sách, ngưòi ở quận Châu Diên, (phủ Vĩnh Tường, trước thuộc về Sơn Tây, nay thuộc tỉnh Vĩnh Yên)
Vợ Thi Sách là Trưng Trắc, con gái quan lạc tướng ở huyện Mê Linh (làng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, tỉnh Phúc yên) cùng với em gái là Trưng Nhị, nổi lên đem quân về đánh Tô Định. Bọn Tô Định phải chạy trốn về quận Nam Hải.
Lúc bấy giờ những quận Cửu Chân, Nhật Nam và Hợp Phố cũng nổi lên theo về với hai bà Trưng – thị.. Chẳng bao lâu quân hai bà hạ được 65 thành trì. Hai bà bèn tự xưng làm vua, đóng đô ở Mê Linh là chỗ quê nhà.
Năm Tân Sửu (41) vua Quang Vũ sai Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với quan lâu thuyền tướng quân là Đoàn Chi sang đánh Trưng vương.
Mã Viện là một danh tướng nhà Đông Hán, lúc bấy giờ đã ngoài 70 tuổi nhưng vẫn còn mạnh, đem quân đi men bờ bể phá rừng đào núi làm đường sang đến Lãng bạc gặp quân Trưng vương. Hai bên đánh nhau mấy trận. Quân của Trưng Vương là quân ô hợp, không đương nổi quân của Mã Viện, đã từng đánh giặc nhiều phen. Hai bà rút quân về đóng ở Cẩm khê (phủ Vĩnh tường, tinh Vĩnh Yên). Mã Viện tiến quân lên đánh, quân hai bà vỡ tan cả. Hai bà chạy về đến xã Hát môn, thuộc huyện Phúc lộc, nay là huyện Phúc thọ, tỉnh Sơn tây), thế bức quá, bèn gieo mình xuống sông Hát giang (chỗ sông Đáy tiếp vào sông Hồng Hà mà tự tận. Bấy giờ là ngày mồng 6 tháng 2 năm Quí Mão (43).
…Hai bà họ Trưng làm vua được 3 năm, nhưng lấy cái tài trí người đàn bà mà dấy được nghiã lớn như thế, khiến cho vua tôi nhà Hán phải lo sợ, ấy cũng là đủ để cái tiếng thơm về muôn đời. Đến ngày nay có nhiều nơi lập đền thờ hai bà để ghi tạc cái danh tiếng hai người nữ anh hùng nước Việt Nam ta“

(Trich "Việt Nam sử lược" tập 1 cuả Trần trọng Kim trang 39, 40)

Chuyện Hai bà Trưng tuẫn tiết trên dòng sông Hát giang sau khi thua quân Tàu Mã Viện như đoạn văn trích dẫn trên của Sử gia Trần trọng Kim là một chuyện mà người Việt Nam ai cũng biết. Có một số người Việt Nam vọng ngoại lúc nào cũng ca tụng nhân quyền của Tây phương, ngưỡng mộ chuyện nữ quyền được pháp luật Tây phương đề cao, và từ đó tỏ vẻ dẻ biũ về thành kiến trọng nam khinh nữ cuả người Việt Nam nói riêng và Á châu nói chung.
Có bao giờ họ nhìn thấy chuyện Hai bà Trưng đã lên làm vua ngay từ thời kỳ đầu của nước Việt Nam, trong khi ở những nước Tây Phương giờ naỳ còn lẹt đẹt tranh đấu cho nữ quyền được bình đẳng với nam giới!
Lịch sử là một chuyện thường được lập lại. Gần 2000 năm sau, một người Việt Nam yêu nước khác cũng dùng dòng nuớc sông để tuẫn tiết đền nợ nước. Người đó chính là liệt sĩ Phạm hồng Thái. Chuyện kể rằng người tráng sĩ Phạm hồng Thái một mình ôm bom vào tận trong bàn tiệc của khách sạn Victoria, thành phố Sa điện thuộc tô giới Pháp. Ông quyết giết tên thực dân Pháp Martial Merlin là toàn quyền Đông Dương thời bấy giờ, lúc đó hắn đang trên đường từ Nhật Bản ghé Hồng Kông trước khi về Hà nội.
Phạm hồng Thái phải ra tay trừ gian diệt bạo giải cứu quê hương Việt Nam đang đau khổ khốn cùng trong bàn tay cai trị khắc nghiệt của thực dân Pháp.

Hôm đó là ngày 19- 6 – 1925. Phạm hồng Thái đã ném trái bom vào trong bàn tiệc cuả tên Merlin nhưng tiếc thay không giết được tên thực dân Pháp gian ác này. Sau đó, ông bị truy đuổi và cuối cùng đã nhảy xuống dòng sông Châu giang tự vẫn.Sông Châu giang là con sông ngăn cách giưã Hồng Kông và thành phố Quảng Châu. Ông hành xử như thế để quyết không dể xác thân lọt vào tay giặc.

Hai con sông Hát giang và Châu giang là nơi tuẫn tiết cuả hai nữ lưu Trưng Trắc và Trưng Nhị và chàng tráng sĩ dũng cảm Phạm hồng Thái. Đã là người Việt Nam nếu có dịp đi trên hai con sông này thì cũng nên nhớ dến tấm gương trung liệt khí phách của ngươì xưa.
Trần Nhân Tông.jpg
Lịch sử Việt Nam oanh liệt nhất ở thời nhà Trần với 3 lần đánh thắng quân Nguyên xâm lược. Không phải ngẫu nhiên mà quân dân ta hồi ấy hùng mạnh như thế. Trong những yếu tố thành công đuổi giặc, có yếu tố những vua quan chỉ huy hồi ấy là những người dũng cảm, anh hùng.
Khi đất nước đang bị nguy biến vì xâm lăng. Vua Thái Tông đến hỏi ý kiến Thái sư Trần thủ Độ.
Thủ Độ nói rằng,
“Đầu tôi chưa rơi xuống đất, thì xin bệ hạ đừng lo!“

Rồi đến danh tướng Trần hưng Đạo thì sách Việt Nam sử lược cuả Trần trọng Kim kể lại rằng:
“Vua Nhân Tông nghe Hưng – đạo- vương thua chạy về Vạn kiếp, liền ngự một chiếc thuyền nhỏ xuống Hải đông (tức là Hải dương) rồi cho vời Hưng – đạo- vương đến bàn tiệc, nhân thấy quân mình thua, trong bụng lo sợ, mới bảo Hưng- đạo – vương rằng, “Thế giặc to như vậy, mà chống với nó thì dân sự tàn hại, hay là trẫm hãy chịu đầu hàng đi để cứu muôn dân”
Hưng – đạo –vương tâu rằng, “Bệ hạ nói câu ấy thì thật là lời nhân đức, nhưng mà Tôn miếu, Xã tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin trước hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng!” Vua nghe lời nói trung liệt như vậy, trong bụng mới yên.
(Trích “Việt Nam sử lược“ tập 1 cuả Trần trọng Kim trang 139)

Người cầm đầu là Hưng – đạo – vương can đảm khí khái như vậy mà những tướng dưới tay cũng không kém anh hùng. Trần quốc Toản, Phạm ngũ Lão, Yết Kiêu, Dã Tượng đều là những dũng tướng tài ba cả. Riêng tướng Trần bình Trọng thì đã lưu lại trong sử sách một tấm gương trung liệt bất khuất còn lưu đến ngàn năm sau.
Sách “Việt Nam sử lược“ cuả Trần trọng Kim kể:
“Ở Thiên trường, Trần bình Trọng thâý quân nhà Nguyên đã đến bãi Đà mạc (ở khúc sông Thiên mạc, huyện Đông an, Hưng yên) liền đem binh ra đánh, nhưng chẳng may bị vây, phải bắt. Quân Nguyên đưa Bình Trọng về nộp cho Thoát Hoan, Thoát Hoan biết Bình Trọng là tướng khỏe mạnh, muốn khuyên dỗ về hàng, thết đãi cho ăn uống, nhưng Bình Trọng không ăn, dỗ dành hỏi dò việc nước, Bình Trọng cũng không nói. Sau Thoát Hoan hỏi rằng, “Có muốn làm vương đất Bắc không?“
Bình Trọng quát lên rằng,
“Ta thà rằng làm quỉ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc. Ta đã bị bắt thì chỉ có một chết mà thôi, can gì phải hỏi lôi thôi!“ Thoát Hoan thấy dỗ không được, sai quân đem chém."
(Trích “Việt Nam sử lược“ tập 1 cuả Trần trọng Kim trang 144)

Lời quát khí tiết bất khuất của Trần bình Trọng còn vang vọng mãi đến ngàn sau mà mỗi người Việt Nam mỗi khi nhớ đến không ai lại không cảm phục, kính trọng. Nhà Trần hồi ấy có những tướng tài giỏi dũng cảm như Trần thủ Độ, Trần hưng Đạo, Trần bình Trọng nên đã huy động được sức lực cuả toàn dân Đại Việt và đã đánh bại quân Nguyên xâm lược không phải chỉ có một lần mà cả thảy 3 lần.
Chính nhà Trần đã tổ chức ra Hội Nghị Diên Hồng tập hợp sức mạnh toàn dân cùng đánh giặc và hào khí Diên Hồng mãi mãi là một bài học mà dân tộc Việt Nam cần phải học hỏi để đối phó với nạn ngoại xâm sau nầy.
Sau 1000 năm đô hộ giặc Tàu rồi đến 100 năm đô hộ giặc Tây. Dân Việt một lần nữa xả thân tranh đấu cho nền độc lập nưóc nhà và những tấm gương đấu tranh dũng liệt lại được phơi bày ra ánh sáng. Một trong những tấm gương dũng liệt là gương tuẫn tiết cuả quan Nguyễn tri Phương.

Sách “Việt Nam sử lược“ của Trần trọng Kim kể rằng:
“Đến sáng hôm rằm tháng 10 năm Quí dậu (1873) thì quân Pháp phát súng bắn vào thành Hà nội. Ông Nguyễn tri Phương cùng với con là Phò mã Nguyễn Lâm hoảng hốt lên thành giữ cửa Đông và cửa Nam. Được non một giờ thì thành vỡ, Phò mã Lâm trúng đạn chết, ông Nguyễn tri Phương thì bị thương nặng. Quân Pháp vào thành bắt được ông Nguyễn tri Phương và quan khâm phái Phan đình Bình đem xuống tàu.
Ông Nguyễn tri Phương nghĩ mình là một bậc lão thần thờ vua đã trải ba triều, đánh nam dẹp bắc đã qua mấy phen, nay chẳng nay vì việc nước mà bị thương, đến nỗi phải bắt, ông quyết chí không chịu buộc thuốc và nhịn ăn mà chết.
Ông Nguyễn tri Phương là người ở Thừa Thiên. do lại điển xuất thân, làm quan từ đời vua Thánh tổ, trải qua ba triều mà nhà vẫn thanh bạch, chỉ đem trí lự mà lo việc nước, chứ không thiết của cải. Nhưng chẳng may phải khi quốc bộ gian nan, ông phải đem thân hiến cho nước, thành ra cả nhà cha con, anh em đều mất vì việc nước. Thật là một nhà trung liệt xưa nay ít có vậy
(Trích sách “Việt Nam sử lược“ tập 2 của Trần trọng Kim trang 282, 283)

Phải có những người đấu tranh và chấp nhận hy sinh như quan Nguyễn tri Phương thì đất nước Việt Nam mới có thể trường tồn với thời gian dù trải qua bao lần xâm lăng của ngoại bang.
Ở đây cũng xin nhắc câu nói để đời của người anh hùng chống Pháp Nguyễn trung Trực trước khi bị hành hình bằng máy chém của Pháp, “Bao giờ nưóc Nam hết cỏ mọc thì lúc đó mới hết người Nam chống Tây“. Một câu nói đã lột tả hết tinh thần bất khuất muôn đời chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam.
Đến đầu thế kỷ 20 thì cuộc đấu tranh chống quân Pháp xâm lược vẫn tiếp diễn với thêm nhiều gương đấu tranh sáng ngời khác. Một trong những người trẻ đã để lại dấu ấn trong dòng lịch sử đấu tranh cuả dân tộc Việt là Nguyễn thái Học. Ông đúng là loại người tài không đợi tuổi.

Ông sinh ngày 1 tháng 12 năm 1902. Ông thành lập tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng năm 1927 và lãnh đạo cuộc khởi nghiã Yên Bái năm 1930. Cuộc khởi nghĩa bị thất bại, ông và 12 đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng bị Pháp giải từ ngục thất Hoả Lò lên Yên Bái sáng sớm ngày 17 tháng 6 năm 1930 để rồi tất cả 13 người thanh niên yêu nước này bị xử tử bằng máy chém. Trước khi bị hành hình, tất cả 13 người đều hô to “Việt Nam muôn năm“.
Nguyễn thái Học còn để lại câu phương châm bất hủ khi ông dấn thân vào đường đấu tranh:
“Không thành công thì thành nhân.”

Nếu trong hàng ngàn năm chống ngoại xâm có hàng trăm gương đấu tranh anh dũng thì trong thời gian đất nước bị nội xâm tức thời gian bị Cộng sản lãnh đạo cầm quyền, lại xuất hiện những gương đấu tranh kiên cường bất khuất không kém thời kỳ chống ngoại xâm.
Một trong những khuôn mặt rắn rỏi, cương nghị đã mạnh dạn phê phán những sai trái của Công sản lúc chúng mới manh nha điều động toàn dân chống Pháp là nhà văn Phan Khôi. Cụ sinh năm 1887 tại làng Bảo An, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Ông thân sinh ra cụ là Phan Trân, trước làm tri phủ phủ Điện Khánh, sau từ quan về làm nghề dạy học. Bà mẹ cụ Phan Khôi là con gái quan Hoàng Diệu, nguyên Tổng đốc Hà nội, có lần đã đi sứ sang Tây ban nha và Anh cát lợi. Cụ Hoàng Diệu tuẫn tiết khi thành Hà nội bị lọt vào tay Henri Riviere năm 1882.
Cụ theo Việt Minh kháng Pháp nhưng Phan Khôi chỉ tán thành cuộc kháng chiến chống Pháp nhưng cụ rất ghét Việt Minh. Hồi 1951, cụ làm bài thơ ví cuộc kháng chiến như hoa hồng và ví Việt Minh như gai. Đại ý cụ nói cụ vì yêu kháng chiến mà phải phục tòng Việt Minh. Bài thơ như sau:

HỒNG GAI
Hồng nào hồng chẳng có gai
Miễn đừng là thứ hồng dài không hoa
Là hồng thì phải có hoa
Không hoa chỉ có gai mà ai chơi ?
Ta yêu hồng lắm hồng ơi !
Có gai mà cũng có mùi hương thơm

(16- 3- 1951)

Muà thu 1956 cụ viết bài “ Phê bình lãnh đạo văn nghệ Đảng “ trong Giai phẩm muà thu. Bài này gây nên sự tranh cãi gay gắt giữa trí thức miền Bắc với Đảng. Để nới rộng cuộc đấu tranh sang lĩnh vực chính trị, cụ Phan Khôi nhận đứng ra làm chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Nhân Văn sau khi được những người trong ban biên tập báo như Lê Đạt, Hoàng Cầm,Trần Dần, Trần Duy, Nguyễn hữu Đang đề nghị. Để tỏ ý chí đấu tranh đến cùng, cụ làm bốn câu thơ
Nắng chiều tuy có đẹp
Tiếc tài gần chạng vạng
Mặc dù gần chạng vạng
Nắng được thì cứ nắng

(1956)

Báo Nhân Văn ra được vài số, gây được tiếng vang rất lớn trong công luận thì Đảng ra tay trừng trị những nguoì chủ trương ra báo này và ngay cả những người có đăng bài trong baó. Một số bị vào tù, một số bị trù dập bao vây kinh tế khốn đốn đủ mọi bề.
Say này, có nhà văn Phạm thị Hoài thu thập những ghi chép lẻ tẻ của nhà thơ Trần Dần và xuất bản thành cuốn sách mang tên “Ghi“ phát hành ở hải ngoại. Trong cuốn sách Trần Dần kể lại chi tiết những năm tháng bị hoạn nạn, khủng hoảng khi bị Đảng quyết tâm tiêu diệt tờ báo Nhân Văn bằng cách khủng bố những người liên hệ đến tờ báo “phản động“ này.

Trong đó, Trần Dần có kể lại chuyện khi trong tình trạng rối rắm vì bị Đảng truy bức hành hạ đủ điều để đàn áp tinh thần những người làm báo Nhân Văn, cụ Phan Khôi có cho vợ cụ đến nhà nhà văn Phùng Cung (một người có bài văn nổi tiếng “Con ngựa già của chuá Trịnh“ đăng trên báo Nhân văn) và nói với Phùng Cung như sau: “Tôi già rồi. Có chuyện gì các anh cứ đổ cho tôi“. Xem chuyện đó mới thấy cái tiết tháo anh hùng của cụ Phan Khôi. Cụ khẳng khái nhận lấy trách nhiệm thay cho anh em khi buá rìu hành hạ cuả Đảng sắp sưả ra tay trừng trị nhóm anh em Nhân văn.
Trần Dần ghi lại rõ ràng chuyện này như sau:
“29 – 4
Phùng Cung
Nhục lắm. Mẹ nó. Mình xin về nhà có được không nhỉ? Mẹ nó. Có những thằng nó không bằng một thằng đồ gàn phong kiến nữa! Phan Khôi chẳng hạn. Hắn cho vợ hắn gặp tôi, nhắn rằng, “Tôi đã nói gì với anh, anh cứ tố ra hết đi. Vì tôi thì già rồi, mà anh thì còn trẻ!“ Mẹ nó, nhục quá. Anh bảo nên thế nào? Có nên xin ra biên chế không?
Tôi nhìn Phùng Cung, ái ngại cho anh quá. Đâu như trong khi học tập, anh ta “hỗn“ quá, bị đuổi khỏi lớp làm sao ấy.. Tôi khuyên anh, rằng nên đầu hàng đi; rằng chỉ có một con đường, “họ” là chân lý, mình đầu hàng là phải; rằng không nên xin ra biên chế, lúc này làm việc ấy là một sự tiến công của tư tưởng thù địch; rằng không nên coi là nhục, oan ức gì nữa, mà cứ nghĩ lại xem tổng cộng cái bồ chữ mình đã chửi vào lãnh đạo nó to như thế nào, còn oan và nhục gì nữa?

Phùng Cung xem ý không thông gì lắm. tôi thấy khổ! Một con người có cái gan “tử vì đạo“ là Phùng Cung, than ôi, cái đạo mà anh chưa tỉnh ngộ ra hử anh?
(Trích trong sách “Ghi“ của Trần Dần trang 253, nhà xuất bản Văn Nghệ , Hoa kỳ)

Phải nhìn thấy hành động can đảm của Phan Khôi đứng ra nhận tội thay cho Phùng Cung trong nhóm Nhân văn là một hành động rất anh hùng. Ông nhìn thấy cơn bão truy bức hành hạ của Đảng sắp đổ tới nhưng ông không trốn chạy như loâi người phàm phu tục tử yếu hèn khác mà vẫn đứng uỡn ngực ra nhận tội thay cho anh em.
Một con người như thế xứng đáng gọi là một nguời quân tử, anh hùng. Phan Khôi xứng đáng là cháu ngoaị cuả vị quan anh hùng tử tiết Hoàng Diệu đã tuẫn tiết năm xưa khi không giữ được thành. Giòng máu anh hùng của Hoàng Diệu rõ ràng vẫn chảy luân lưu trong huyết quản của Phan Khôi nên ông mới có cách hành xử cao đẹp và can đảm như thế. Ông quả là một con người đáng kính và đáng ngưỡng mộ.
Phải nói hung thần đàn áp trong vụ Nhân văn giai phẩm không ai khác hơn là nhà thơ Tố Hữu. Đây là một vụ án văn học biến thành một vụ án chính trị.
Chấm dứt vụ án là hàng loạt những vụ bắt bớ, tù đày, trù dập, bao vây kinh tế, quản thúc những văn nghệ sĩ dính dáng đến báo Nhân văn. Sau đó là sự cấm đoán chuyện sáng tác kéo dài hàng mấy mươi năm. Đến khi chuỵện trù dập được nới tay hơn thì những người bị đàn áp đã già nua, bệnh hoạn, qua đời.
Nhá văn Hoàng Tiến phát hiện thêm nguyên nhân sâu xa cuả vụ đàn áp Nhân văn giai phẩm là sự đố kỵ tài năng, được che đậy bằng những cuộc đấu tranh tư tưởng, đấu tranh giai cấp. Tố Hữu ghen tức tài thơ của những thi sĩ trong báo Nhân Văn như Hữu Loan, Hoàng Cầm, Trần Dần, Văn, Cao, Lê Đạt, Phùng Quán v.v Thơ Tố Hữu khó được tôn vinh là thi ca hàng đầu nếu những nhà thơ kia có cơ hội sáng tác và xuất bản những bái thơ tuyệt tác của họ.
Thơ Tố Hữu sẽ mờ dần trong bóng tối nếu đọ sức với những tài thơ lừng lẫy trong báo Nhân Văn, Vì vậy những tài thơ này bị bắt bớ tù đầy, thơ văn bị cấm xuất bản là chuyện dễ hiểu thường tình mà thôi.
Trong bài viết “Nhìn lại vụ án Nhân văn, giai phẩm cách đây 40 năm “viết vào tháng 9 năm 1997.. nhà văn Hoàng Tiến đã thẳng thắn phân tích cụ thể cái yếu kém của thơ Tố Hữu đứng trên phương diện thi pháp và thẩm mỹ, cách diễn đạt.
Hoàng Tiến viết:
“… Chân dung Tố Hữu được nhà thơ Xuân Sách khắc họa bằng mấy câu thần tình:
‘Từ ấy “ trong tim ngừng tiếng hát
Trông về “ Việt Bắc “ tít mù mây
Nhà càng “ lộng gió “ thơ càng nhạt
Máu ở chiến trường hoa ở đây“

Vân vân …và … vân vân

Nhà thơ Hữu Loan về quê làm ruộng, thồ miá, thồ đá nung vôi, sau 30 năm mới trở ra Hà nội đã thành một ông già râu tóc bạc trắng. Hỏi ông đánh giá về thơ Tố Hữu như thế nào? Ông suy nghĩ một lát, rồi trả lời “Một nhà thơ trung bình“.
Tôi cho đánh giá cuả nhà thơ Hữu Loan là đúng mực.

Vì đã là một thần tượng thi ca, thì ngoài nội dung tư tưởng, còn phải có đóng góp về phương thức biểu cảm. Thơ Tố Hữu được phần nội dung tư tưởng cách mạng, nhưng phần hình thức biểu hiện không có đóng góp mới. Ông sử dụng những hình thức biểu hiện sẵn có như thể lục bát, hoặc thất ngôn trường thiên hay ngũ ngôn trường thiên cuả thể cổ phong. Mà lục bát thì ông không thể hơn được Nguyễn Du, cũng chưa hơn được Nguyễn Bính. Các cách thức biểu hiện khác (gọi là thể tự do), thì đã có cả trong phong trào thơ mới giai đoạn 1930-1945. Họ (những nhà thơ lãng mạn) là những người đóng góp, chứ ông Tố Hữu là người lập lại câu thơ cuả Phạm huy Thông

Sở bá vương ngồi yên trên mình ngựa
Đưa mắt buồn lặng ngắm chân trời xa
Trong sương thu nhẹ đượm ánh dương tà
Quân Lưu Bang đang tưng bừng hạ trại

(Tiếng địch sông Lô – 1935)

Âm cuối câu thứ nhất Phạm huy Thông gieo vần trắc, gợi hình một võ tướng gắn chặt với chiến mã, còn chiến mã bám chắc xuống mặt đất, giống như một khối tượng.
Âm cuối câu hai và câu ba gieo vần bằng, làm câu thơ thoát ra, ngân dài, như không gian bát ngát bao la trước mặt Hạng Võ.Âm cuối câu thứ tư hai vần trắc liền nhau (hạ trại), nghe như thấy tiếng đóng cọc dựng lều của quân sĩ Lưu Bang đang bao vây Hạng Võ ở vùng Cai Hạ, dẫn đến tiêu diệt đối thủ dũng mãnh này.
Câu thơ của Tố Hữu
Mã Chiêm Sơn buông cương và ngẫm nghĩ
Ngựa rung đầu hý mạnh giữa tàn quân
Đồi non xa thấp thoáng đỉnh non gần
Đã khuất phục dưới lá cờ binh Nhật

(Mã Chiêm Sơn – In trong tập “Từ Ấy“ xuất bản năm 1946)
Âm cuối câu 1 và câu 4, Tố Hữu cũng gieo vần trắc; âm cuối câu 2 câu 3 cũng gieo vần bằng, y hệt Phạm huy Thông. Nhưng câu thơ của Phạm huy Thông ăn nhập chặt chẽ giữa nội dung và hình thức biết bao! Một thành công trong nghệ thuật biểu cảm của lối thơ 8 âm tiết được sáng tạo trong phong trào thơ mới. Còn hình tượng Mã Chiêm Sơn của Tố Hữu chỉ là một phiên bản vụng về. Ngay câu đầu, hai từ “buông cương“ và “ngẫm nghĩ“ làm cấu trúc câu thơ lỏng lẻo hẳn đi, rã rời hình ảnh một chiến tướng, đâu còn có thể “đánh tan xương quân Nhật một sư đoàn“. Bạn hãy đọc to lên, ngâm lên nữa càng hay, sẽ nhận ra rất rõ sự hơn kém về tứ, về âm của cả khổ thơ, của từng câu thơ, của từng lời thơ.
Các nhà phê bình thường lớn tiếng khen ngợi cái nhạc điệu vui vẻ, lách chách của chú bé liên lạc Lượm như một sáng tạo nhạc điệu trong thơ Tố Hữu:
Chú bé loắt choắt
Cái xắc xinh xinh
Cái chân thoăn thoắt
Cái đầu nghênh nghênh
Ca – lô đội lệch
Mồm huýt sáo vang
Như con chim chích
Nhảy trên đưòng vàng

Cũng nên biết trước đó, thơ mới đã miêu tả đối tượng bằng nhạc điệu, như bài “Sương rơi” của Nguyễn Vỹ có trước bài “Lượm“ gần 15 năm.

Rơi sương
Cành dương
Liễu ngả
Gió mưa
Tơi tả
Từng giọt
Thánh thót
Từng giọt
Tơi bời
Mưa rơi
Gió rơi
Lá rơi
Em ơi..

(Sương rơi – 1935)

Hơn nữa thơ Tố Hữu có khá nhiều hạt sạn. Lấy như bài “Hoan hô chiến sĩ Điện Biên“ (1954), ông viết:
Chúng bay chỉ một đường ra
Một là tử điạ hai là tù binh
Có lời bình rằng
Đã một mà lại hoá hai
Một hai, hai một, khổ tai bực mình

Trong bài “Ta đi tới“ (1954), ông cũng viết:
Đường ta rộng thêng thang tám thước

Nghe buồn cười. Thênh thang mà lại có 8 thước. Vả lại thơ không nên bám sát lấy con số thực tế quá. Thơ cần khái quát bản chất để có thể bốc lên, bay lên. Vì câu thơ trên nên thành một giai thoại văn học. Giai thoại kể rằng nhà thơ Trần đăng Khoa hồi còn là một chú thiếu nhi dã xin phép bác Tố Hữu cho cháu được chữa:

Đường ta rộng thênh thang ta bước
Như thế câu thơ mới thơ hơn

Thơ Tố Hữu có nhiều câu sáo ngữ. Khi nghe Xít–ta- lin mất, Tố Hữu viết:
Thương cha thương mẹ thương chồng
Thương mình thương một thương ông thương mười

(Đời đời nhớ ông – 1953)

Lại nữa:

Yêu biết mấy, nghe con tập nói
Tiếng đầu lòng, con gọi Xít – ta – lin

(Đời đời nhớ ông – 1953)

Hỡi ôi! con mình dứt ruột đẻ ra, tiếng đầu lòng phải là gọi mẹ, gọi bố, gọi bà, vưà dễ phát âm vưà biết bao tình cảm thiêng liêng huyết thống. Đằng này nó lại gọi tên một con ngươì xa lạ nước ngoài, vả lại rất khó phát âm với con trẻ Việt Nam. Câu thơ chỉ có thể là giả dối, nếu không tác giả là người đã để mất linh hồn dân tộc.
Lại câu:
Chân dép lốp mà bay vào vũ trụ

Mới nghe tưởng rất tự hào. Suy nghĩ một chút thì thấy lố. Xét nghĩa đen, vào vũ trụ không đi dép lốp được, phải có một loại giày đặc biệt. Xét nghĩa bóng, nó giống chuyện một anh ngố, đi nhờ xe người ta lại nghĩ mình cũng oai như ngươì ta.
Thố lộ tình yêu cũng nguyên tắc, máy móc; lại có phần trịch thượng ban ơn

Mà nói vậy: trái tim anh đó
Rất chân thật, chia ba phần tươi đỏ
Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều
Phần cho thơ, và phần để em yêu
Em xấu hổ ; “ thế cũng nhiều anh nhỉ “
Rồi hai đứa hôn nhau, hai người đồng chí

(Bài ca mùa xuân 61)

Nhà thơ Nadim Hichmet, người Thổ nhĩ kỳ, cũng là nhà thơ Cộng sản, ông nói khác, “Cộng sản có thể chung nhau nhiều thứ. Riêng má người yêu thì không chung được“
Cô bạn giáo viên dạy văn phổ thông trung học bình phẩm về hai câu thơ cuối đoạn như sau, “Em thì chẳng việc gì phải xấu hổ. Em sẽ nói, “Xin lỗi. Tôi không thể yêu ông”. Đến hôn nhau mà cũng còn phân biệt “đồng chí“ với “quần chúng“ thì không sao hiểu nổi. Có lẽ môi những người đồng chí được cấu tạo bằng thép, khi chạm nhau chúng kêu coong coong“
Làm duyên đấy thôi cô ạ! Khối các ông Cộng sản hai ba vợ, ngoài ra còn bồ bịch hàng đống.
Thơ Tố Hữu được in nhiều trong sách giáo khoa. Các nhà trường đều học. Coi như thơ kinh điển. Bài thơ “Bài ca tháng mười“ của ông, mở đầu bằng khổ thơ:

Thuở anh chưa ra đời
Trái đất còn nức nở
Nhân loại chửa thành người
Đêm ngàn năm man rợ

(Bài ca tháng mười – 1950)

Từ “Anh“ ở đây viết hoa, để chỉ Liên xô, người anh cả phe xã hội chủ nghĩa, nơi có cuộc cách mạng tháng 10. Tôi không lấy cái chuyện Liên xô bây giờ tan rã để bắt bẻ tác giả. Tôi cứ cho cách mạng tháng 10 là một sự kiện đáng ca ngợi. Nhưng ca ngợi làm sao cho người ta nghe được, không cho mình là quá lời,là tâng bốc. Lại không được miệt thị dân tộc mình và miệt thị các dân tộc khác. Giữ được tinh thần bình đẳng tỉnh táo của người cầm bút. Xin hỏi tác giả bài thơ: Vậy trước cách mạng tháng 10, những giá trị nhân bản của nước Nga như Puchkine, Tolstoi, Tchekhov..là chửa thành người ư? và man rợ cả ư? Lại còn những Shakespeare, Byron của Anh, Voltaire, Rousseau của Pháp, Goethe của Đức, Tagore của Ấn độ, Lý Bạch, Đỗ Phủ của Trung quốc.. đều chửa thành ngươì cả ư? Rồi những giá trị nhân văn của chúng ta như Nguyễn Trãi, Nguyễn bỉnh Khiêm, Nguyễn Du..cũng chửa thành người ư? Tụng ca như vậy là lối bốc đồng của một thứ kiến thức loại học sinh phổ thông, nếu không muốn nói là sai lầm về phương pháp tư tưởng của cán bộ cách mạng.
Người như vậy mà ở cương vị lãnh đạo tối cao về văn nghệ sẽ không tránh khỏi khi cực tả, khi cực hữu, có hại cho phong trào hơn là sự đắp bồi cho phong trào phát triển…”
Điểm đáng nói ở đây là Hoàng Tiến phê bình Tố Hữu trong khi Hoàng Tiến ở trong nước và trong lúc Tố Hưũ còn sống. Hoàng Tiến không chờ khi Tố Hữu qua đời mới viết bài phê phán Tố Hữu. Đó là điểm son can đảm đáng quý của Hoàng Tiến, dám đối diện với người mình phê phán chứ trong sợ hãi tránh né.

Trong bức thư gửi cho Trần văn Thư viết ngày 20 tháng 8 năm 2001, Hoàng Tiến nói rõ tại sao ông viết bài phê bình thơ Tố Hữu lúc Tố Hữu còn sống:
“Hồi ấy, các bạn thân bảo tôi rằng, ông Tố Hữu tuy thôi chức rồi, nhưng thế lực vẫn còn mạnh lắm, ông ấy vẫn có thể bóp chết ông. Tôi đã trả lời;, “Đấy chính là lý do tôi phải viết khi ông ấy còn sống. Nếu để khi ông ấy chết rồi mới viết, thì người sau sẽ hỏi, sao ông ấy còn sống, không ai viết?“ Ông ấy còn sống nghĩa là ông ấy có thể trả lời, có thể phản bác, và những người ca tụng thơ Tố Hữu có thể tranh luận. Đây là vấn đề học thuật, nếu lý họ phải thì tôi thua. Còn họ không phản bác được những điều tôi nêu ra trong bài nghiên cứu, thì họ phải nghe theo tôi. Văn chương có định luật Archimede của nó, có cái công bằng của nó. Còn nếu họ dùng hành chính bạo lực thì khỏi phải nói, họ có thể đày đọa tôi, nhưng họ đâu có thắng. Về điều này thì bên công an cũng đã tra hỏi tôi. Họ đã cự tôi, căn cứ vào đâu tôi bảo là vụ án văn học, còn theo họ đây là vụ án chính trị phản động….”

Hoàng Tiến đã chứng tỏ ông là một người cầm bút có danh dự, tự trọng và can đảm khi viết bài phê phán Tố Hữu lúc Tố Hữu còn sống chứ không đợi sau khi Tố Hữu qua đời mới viết. Lối hành xử quân tử đẹp đẽ đó của Hoàng Tiến là một điểm son đáng được bất cứ người cầm bút nào cũng nên noi theo.
Nếu Hoàng Tiến được công nhận là can đảm khi phê phán Tố Hữu khi Tố Hữu còn sống thì có một người tìm cách trích dẫn sai trái lời nói của một người khi người đó qua đời. Người đó là nhà trí thức thân cộng Nguyễn ngọc Giao ở Pháp. Ông cố tình phịa ra lời nói cuả điệp viên chiến lược Phạm xuân Ẩn phủ nhận chuyện ông Hồ chí Minh có tặng cành đào cho ông Ngô đình Diệm trong dịp tết 1963. Điều không được lương thiện là Nguyễn ngoc Giao kể lại lời của ông Ẩn sau khi ông Ẩn qua đời. Chuyện ông Hồ tặng cành đào cho ông Diệm là chuyện có thật với nhiều nhân chứng còn sống để làm chứng điều đó. Tất cả sách báo Hà Nội đều làm lơ về chuyện này, họ không dám xác nhận hay phủ nhận chuyện này vì có thể họ không biết sự thật ra sao. Vả lại, họ lại không thích chuyện Chủ tịch Hồ chí Minh của họ có cử chỉ thân thiện đi tặng cành đào cho Tổng thống miền Nam Ngô đình Diệm năm 1963 nên tránh né vấn đề này là hơn. Dĩ nhiên thứ thân cộng như Nguyễn ngọc Giao cũng tìm cách phủ nhận chuyện ông Hồ tặng cành đào cho ông Diệm bằng cách gian xảo phịa ra lời cuả Phạm xuân Ẩn bác bỏ chuyện tặng cành đào. Cái gian xảo của Nguyễn ngọc Giao là chỉ dám phịa lơì của Ẩn sau khi Ẩn qua đời vì Ẩn không thể đội mồ sống lại mà cải chính. Cộng sản tượng trưng cho sự gian dối, thứ thân cộng như Nguyễn ngọc Giao cũng học thói gian manh của Cộng sản, viết lách dối trá chỉ nhằm bênh vực cho Đảng một cách trơ tráo và vô liêm sỉ.
Trong di chúc ngày 14 – 8 – 1969 Hồ chí Minh có nói đến chuyện ông có nhờ mấy nhân viên Ủy Hội Kiểm Soát Quốc Tế Đình Chiến chuyển vào Nam hai cành đào lớn để tặng cụ Ngô đình Diệm. (Xin vào www.nsvietnam.com rồi bấm vào tên Trần viết Đại Hưng và sau đó bấm vào bài số 114) Một cách lý giải về chuyện Hồ chí Minh bị mất quyền lực trong những năm cuối đời… dể đọc và hiểu rõ thêm chuyện này.) Những nhân chứng còn sống như cụ Cao xuân Vỹ, thủ lĩnh Thanh Niên Cộng Hoà mới đây vào cuối năm 2009 đã lên đài truyền hình SET (57.4) để xác nhận chuyện ông Hồ tặng cành đào cho ông Diệm là chuyện có thật. Một nhân chứng thứ hai là ông cựu Thượng nghị sĩ Lê châu Lộc. Năm 1963 ông Lê châu Lộc là sĩ quan tùy viên của Tổng thống Diệm. Ông Lộc có lê tiếng sau khi ra hải ngoại cho biết ông đã tận mắt nhìn thấy cành đào này. Ông Lê châu Lộc và ông Cao xuân Vỹ hiện nay sống ở quận Cam và có lời khuyên nhà trí thức thân cộng Nguyễn ngọc Giao nên liên lạc với hai ông Lộc, Vỹ để kiểm chứng về chuyện cành đào xem có thật hay không?
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ai cũng biết Phạm xuân Ẩn là một điệp viên tình báo chiến lược. Không như những điệp viên khác như Vũ ngọc Nhạ và Huỳnh văn Trọng bị bắt trong khi làm chuyện điệp báo, Phạm xuân Ẩn thành công che dấu tông tích của mình trong nhiệm vụ điệp báo cho đến khi Cộng sản chiếm miền Nam. Ông được phong hàm thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam và đã qua đời ngày 20 tháng 9 năm 2006 tại Sài gòn.
(Xin vào www.nsvietnam.com rồi bấm váo tên Trần viết Đại Hưng và sau đó bấm vào bài số 91) Người gián điệp vốn yêu chúng ta để đọc và hiểu thêm về Phạm xuân Ẩn)..
Có điều cần phải nói ở đây là có một chuyện mà Phạm xuân Ẩn và gia đình chưa đưa ra lời giải thích thoả đáng. Đó là trong biến cố 30 tháng 4 năm 1975, Phạm xuân Ẩn quyết định ở lại Việt Nam trong khi lại đưa vợ con di tản ra nước ngoài. Sau đó vợ con Ẩn lại quay về Việt Nam đoàn tụ với Ẩn. Phóng viên Nguyễn thị Ngọc Hải đã bỏ ra nhiều giờ để phỏng vấn Phạm xuân Ẩn và viết một cuốn sách về cuộc đời làm gián điệp của Ẩn.
Sau khi Phạm xuân Ẩn qua đời, Nguyễn ngoc Giao có viết một bài nhan đề “Gặp ông Phạm xuân Ẩn lần cuối“ đăng trên mạng Diễn Đàn, trong đó có nói đến chuyện ông Ẩn hoàn toàn bác bỏ chuyện cành đào. Xin trích dẫn bài viết:
“Phải mấy phút sau, ông mới tìm lại hơi thở bình thuờng. Nhìn con người mảnh mai gần như trong suốt, dường như một cơn gió mạnh có thể cuốn đi, chỉ có đôi mất là tràn đầy sinh lực như sẵn sàng “hô phong hoán vũ“, tôi tự nhủ là chỉ nên hỏi ông mươi, mười lăm phút và xin đặt một câu hỏi ngắn thôi: Năm 1963, anh em ông Diệm và ông Nhu bắn tiếng thương lượng với miền Bắc là để “hù“ Mỹ chút chơi, hay họ làm thật, và nếu thật, thì sự liên lạc đã đi tới đâu? Người ta đồn tết năm ấy, ở dinh Độc Lập có cành đào của cụ Hồ gửi tặng, ông có thể xác nhận điều ấy không? Qua các tài liệu thư khố cuả CIA, Bộ Ngoại giao Mỹ, cũng như hồi ký của Đại sứ Ba lan Maneli, tôi biết phải đến ngày 2- 9 – 1963 mới có cuộc nói chuyện đầu tiên và duy nhất giữa Ngô đình Nhu và Maneli (ngay buổi chiều, ông Nhu lại đi khoe ngay với sếp cuả “CIA station”). Quá muộn rồi. Một tuần trước đó bức điện tối mật mang số 243 đề ngày 24- 8- 1963 gửi Đại sứ Lodge (“eye only“, Cabot Lodge đọc xong phải tiêu hủy, không được quyền lưu trữ, người thứ nhì và cuối cùng được đọc là Đô đốc Felt), mang chữ ký cuả Harriman, Hilsman (vụ Viễn Đông), Forrestal (Nhà trắng), Ball (thứ trưởng ngoại giao), đã kết liễu số phận hai anh em Diệm Nhu. Hồ sơ lưu trữ ở Hà nội thì không biết ngày nào mới mở, trước mắt tôi chỉ còn hy vọng ở ông vì nếu có một người nắm được bí mật của cả hai bên( đúng hơn là ba bên, vì trong vụ này, Diệm và Mỹ “tuy một mà hai“, thì đó là Phạm xuân Ẩn. Biết đâu giữa Hà Nội và Sài gòn đã có những tiếp xúc thực chất mà Mỹ không hay?
Ông Ẩn trả lời không một giây do dự: không có cành đào, không có gì hết, ông Nhu “hù“ Mỹ vậy thôi.

…Bây giờ ông mất rồi, tôi tiếc đã không xin phép ghi âm cuộc nói chuyện. Tiếc là tiếc vậy thôi. Tôi hiểu đạo lý nghề nghiệp của ông, nên không đặt ra vấn đề phỏng vấn, càng không đặt ra chuyện ghi âm. Đành coi “bài giảng“ ngẫu hứng của “giáo sư đảo chính học“ là một bài giảng về ngữ pháp, giúp tôi tự học để hiều hơn“ngôn ngữ“ của cuộc chiến tranh 30 năm”
Để chứng minh không có chuyện cành đào ông Hồ tặng ông Diệm xuân 1963, ngưòi anh em thân cộng Nguyễn ngọc Giao trích dẫn lời của điệp viên đã chết Phạm xuân Ẩn.. rồi giả vờ hối tiếc là đã không thâu âm buổi phỏng vấn! Chuyện cành đào là chuyện có thật với hai nhân chứng sống Cao xuân Vỹ và Lê châu Lộc còn sống ở quận Cam, Hoa Kỳ, Nguyễn ngoc Giao nên liên lạc ngay để phỏng vấn hầu trả lại sự thật cho lịch sửø. Nguyễn ngoc Giao đã gian dối trích dẫn lời của điệp viên đã chết Phạm xuân Ẩn để bác bỏ chuyện không có vụ cành đào ông Hồ tặng ông Diệm là một chuyện làm vô liêm sỉ và gian dối. Vì chế độ Cộng sản Việt Nam không thích quần chúng trong và ngoài nước biết chuyện này vì sẽ làm mất uy tín Hồ chí Minh nên người anh em thân công Nguyễn ngọc Giao dùng cái trò trích dẫn lời người đã chết Phạm xuân Ẩn để bênh vực cho lụân điểm cũa chế độ Hà Nội. Cái kiểu trích dẫn lời ngươì chết một cách gian dối để minh chứng cho lập luận của mình không phải Nguyễn ngọc Giao là người đầu tiên chơi trò này.
Trong quá khứ có nhiều nhà văn, nhà báo mất tư cách cũng sử dụng tiểu xảo gian trá này để bảo vệ quan điểm sai trái của mình. Chơi trò trích dẫn người chết không sợ bị đối chất vì người được trích dẫn đã nằm sâu dưới mộ, không thể sống dậy để cãi lại.
Nói đến chuyện chống độc tài và bất công, có lẽ không thể không nhắc đến nhà văn Nhất Linh Nguyễn tường Tam. Ông là thủ lãnh của Tự Lực văn đoàn, chủ trương dùng văn chương đề nâng cao dân trí, khai hoá xã hội, đánh đổ những thói hư tật xấu, đồi phong bại tục trong xã hội Việt Nam. Nhất Linh được coi là một nhà tiểu thuyết sâu sắc cảm hoá được nhiều người nhất, bất kể ở giai tầng xã hội nào. Ông say mê văn chương nhưng không gò bó trong những trang giấy sách. Ông đã từng thành lập dự án “Hội ánh sáng“ với ước mong xây dựng một loại nhà thoáng mát, bền chắc cho dân nghèo. Ông luôn quan niệm là muốn cho người ta có lòng thiện thì phải làm thế nào cho người ta khỏi nghèo khổ, mà một xã hội nghèo khổ thì bao giờ cũng dễ thành một xã hội xấu xa.. Đó là câu nói của một nhân vật trong truyện ngắn “Đầu đường xó chợ“ của ông, nói lên sự suy nghĩ của Nhất Linh trong vấn đề cải tạo xã hội. Về vấn đề đạo đức, ông không bị vướng mắc trong những quan niệm luân lý đạo đức xưa vốn ràng buộc con người bởi những nguyên tắc tam cương, ngũ thường của đạo Khỗng, Nho. Ông trở nên hoài nghi về những giá trị cũ khi quan sát sinh hoạt của xã hội, nhìn thẳng vào thực tế xã hội để đề ra một nguyên tắc luân lý, cư xử mới. Luân lý cũ làm cho con người không được sống tự do, bị ràng buộc bởi mọi quan niệm cũ. Theo ông phải cải tạo lại gia đình và xã hội,, làm sao để con người sống mà không bị chèn ép, bức bách, coi như con vật. Ông mạnh dạn đả phá thứ luân lý hẹp hòi, coi rẻ hạnh phúc cá nhân.

Về chính trị, ông đã từng la bộ trưởng ngoại giao trong chính phủ liên hiệp mà Hồ chí Minh là chủ tịch. Sáu 1954, ông di cư vào miền Nam và đó là lúc ông Ngô Đình Diệm trở về nước, thay thế nội các Bửu Lộc. Đất nưóc bị cắt làm hai, một nửa miền Bắc nằm dươí sự cai trị khắt khe của Việt Cộng và nửa miền Nam dưới sự lãnh đạo của một chính thể Cộng hoà nhưng cũng thiếu không khí tự do cho người dân hít thở.
Nhà văn Trương bảo Sơn ghi lại cái không khí ngột ngạt đàn áp tự do báo chí của chế độ Ngô đình Diệm như sau;
“Sau nữa, ngoài chế độ kiểm duyệt, phản quyền tự do ngôn luận này ra, chế độ Ngô đình Diệm còn có một thủ đoạn hiểm độc nữa là nhà nước giữ độc quyền phát hành báo chí, kể cả giai phẩm. Ngô đình Diệm đã có sáng kiến đặt ra Nhà phát hành Thống Nhất, bắt tất cả mọi báo chí phải đưa cho công sở này phân phối. Tập Văn Hoá Ngày Nay bán chạy như tôm tươi mấy số đầu, đã bị ế dần đi. Nhà phát hành độc quyền của chính phủ đã thi hành độc kế không gửi đủ số báo cho các tiệm sách đã đặt mua. Chúng tôi khi buộc báo thành từng bó đã cố ý đánh dấu riêng, khi nhận báo từ nhà phát hành về, thấy những dấu ấn vẫn còn y nguyên, tức là nhà phát hành đã không làm đúng nhiệm vụ, đã giữ báo của chúng tôi trong kho, không phân phối đi. Có những tiệm sách đến điều đình mua thẳng báo với chúng tôi để có đủ báo bán, nhưng chúng tôi phải từ chối, sợ bị chính quyền gài bẫy. Đã nghèo lại bị thua lỗ, chúng tôi đành đình bản tờ Văn Hoá Ngày Nay."
(Trícb bài viết “ Những kỷ niệm riêng với Nhất Linh Nguyễn tường Tam “ của Trương bảo Sơn trong sách “ Nhất Linh, người nghệ sĩ, chiến sĩ “ do tạp chí Thế Kỷ, Hoa kỳ xuất bản, trang 78).
Cái chế độ kiểm duyệt khốn nạn của chế độ Ngô đình Diệm đã khiến cho Nhất Linh không còn đất dụng võ. Ông không thể phát hành sách báo như ông đã làm trong thời thực dân Pháp còn cai trị Việt Nam. Sự bất mãn chế độ này chắc chắn đã nhem nhúm trong con người Nhất Linh để rồi sau này ông có tham gia vào cuộc đảo chánh năm 1960.
Ngưòi Pháp đi rồi, mỗi giáo phái chiếm cứ một nơi, xã hội bị phân hoá, rối loạn. Ông Ngô đình Diệm lơ là trách nhiệm nặng nề của mình mà dân chúng tin cậy giao phó cho để củng cố uy quyển riêng tư, lo quyển thế cho anh em trong gia đình nên bị dư luận gọi là chế độ “gia đình trị“. Vụ đảo chính hụt ngày 11- 11-1960 do Đại tá Nguyễn chánh Thi cầm đầu, thất bại nên lưu vong qua Cao Miên. Sau đó 33 chính trị gia bị đày đi Côn đảo vì có tham gia cuộc đảo chánh bất thành. Nhất Linh có tên trong số những người có lính líu đến cuộc đảo chánh nên bị đem ra xử.
Ngày 8- 7 – 1963 toà án quân sự được thành lập để xử vụ đảo chính hụt 11- 11-1960 và Nhất Linh nhận được trát toà đòi phải ra hầu tòa. Nhưng ông không hầu toà,ông quyết định dùng độc dược kết liễu đời mình và để lại di chúc thống thiết như sau;
“Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử cả. Sự bắt bớ và xử tội tất cả các phần tử đối lập quốc gia là một tội nặng, sẽ làm cho nước mất về tay Cộng sản.
Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình, cũng như Hoà thượng Thich Quảng Đức tự thiêu, để cảnh cáo những người chà đạp lên mọi thứ tự do."
Nhất Linh Nguyễn tường Tam 7 – 7—1963.

Nhất Linh không muốn ai xử ông cả ngoài lịch sử. Cho đến nay, lịch sử đánh giá ông là một con người yêu nước thương dân, một văn hào lẫy lừng trong văn chương có công xây dựng nền văn hoá nưóc nhà từ thời kỳ phôi thai của Việt ngữ, một nhà tranh đấu xã hội tận tụy hết lòng cho công việc cải tiến dân sinh, trừ tiệt cỗi rễ những sự khốn khó ở đời.
Riêng cái chết lẫm liệt của ông thì có những lời ai điếu chính xác ca ngợi như sau:
Luật sư Dương Kiền nhận định:
Con người mang tên hai chữ Nhất Linh trong suốt cuộc đời đã không làm điều gì vô ích,kể cả điều mà thông thường con người không có quyền làm, là sự chết.
(Trích sách "Chân dung Nhất linh" của Nhật Thịnh trang 199)

Nhất linh dùng cái chết của ông để phản đối chế độ, nhà văn Trương bảo Sơn, một người bạn thân thiết của Nhất Linh đã phân tích cái chết đó là:
Anh đã biết thoái. Anh đã sửa soạn bước thoái của anh kịp thơì đúng lúc. Chết để dội thêm trái bom vào cái chế độ độc tài tàn bạo của anh em Ngô đình Diệm, chết để thức tỉnh biết bao nhiêu người nhất là giới thanh niên, sinh viên và học sinh- để thúc đẩy cho cuộc cách mạng toàn dân sớm bùng nổ và hoàn thành. Cái chết của anh cũng tuyệt hảo, cũng cao cả, đẹp như sự nghiệp văn chương và cách mạng của anh
(Trích sách “Chân dung Nhất Linh“ của Nhật Thịnh trang 14)

Nhà tranh đấu nhân quyền Trần thanh Hiệp đã đưa ra lời ai điếu chân thành và chính xác về cái chết của Nhất Linh như sau trong bài viết “Để trả Nhất Linh Nguyễn tường Tam về cho lịch sử”:
“..Để lại di ngôn“Đời tôi để lịch sử xử“ ông ký tên Nhất Linh Nguyễn tường Tam, một tên gọi kết hợp ông chỉ mới dùng những năm cuối đời. Kết hợp con người làm văn học nghệ thuật và con người làm cách mạng chính trị. Cái chết rất đặc biệt của ông là cái chết của cả hai con người ấy, hay nói đúng hơn, cả hai con người này đã làm ra cái chết ngày 7- 7- 1963 của Nhất Linh Nguyễn tường Tam
… Miền Nam Việt Nam đã mất vào tay Cộng sản, điều Nhất Linh Nguyễn tường Tam lo ngại. Tất nhiên không hẳn hoàn toàn do những hành động ông lên án. Nhưng lịch sử đã bắt đầu việc phán xét và sẽ còn tiếp tục phán xét. Nhất Linh Nguyễn tường Tam không có ý định để lại cho đời sau một thông điệp với một nội dung nhất định nào. Vào cái tuổi 57 chưa hẳn quá về chiều của cuộc đời,ông đã lấy cái chết của mình dể cảnh cáo những người cầm quyền bạo ngược, ngang nhiên chà đạp lên mọi thứ tự do là nhân phẩm, thứ giá trị khiến cho con người khác biệt được với các sinh vật khác. Không phải ai cũng lấy được một quyết định như vậy. Phong thái lẫm liệt aý kiếm thấy trong lịch sử Việt Nam hiện đại.
Người Việt Nam có thể tự hào có một nhân vật Nhất Linh Nguyễn tường Tam trong lịch sử
(Trích “Nhất Linh người nghệ sĩ, người chiến sĩ” trang 132)

Nhìn lại cả cuộc đời đóng góp cho văn chương và xã hội và cái chết cuối đời như một hành động cảnh cáo bạo quyền Ngô đình Diệm của Nhất Linh, ông xứng đáng được ca tụng và ngưỡng mộ như một vĩ nhân của dân tộc Việt Nam.

Sau khi những nhà văn, nhà thơ trong nhóm Nhân Văn giai phẩm bị Cộng sản đàn áp thô bạo bằng những biện pháp tù đày, trù dập, bao vây kinh tế, trong một khoảng thời gian dài trên 20 năm, người ta không thấy một sự chống đối chế độ Cộng sản nào nữa bằng ngòi bút. Ai nấy đều nghĩ rằng mọi sự phản kháng đều tàn lụi trước chính sách cai trị độc ác, tàn bạo của Cộng sản. Nhưng rồi khi tập thơ “Hoa địa ngục“ được xuất bản ở hải ngoại năm 1981 mà tác giả là một nhà thơ ở miền Bắc, ai nấy đều sửng sốt, bàng hoàng về sự phản kháng mạnh mẽ, dứt khoát của tập thơ. Ở trong lòng miền Bắc, tác giả tập thơ dám gọi Hồ chí Minh là “con chó nhỏ” (Nó gọi Tàu Nga là cha anh nó. Và tình nguyện làm con chó nhỏ (Bài “Không có gì quý hơn độc lập tự do“)). Bốn ngàn câu thơ trong tập thơ là bản cáo trạng đanh thép tố cáo những tội ác hung hiểm của chế độ Cộng sản một cách thẳng thừng không xỏ xiên tránh né. Tác giả nói thẳng con đường quyết liệt ông phải đi

Vợ con có thể bỏ
Cha mẹ có thể từ
Cộng sản thì sinh tử
Mới thoát và tự do

Dần dần tên tuổi ông được đưa ra ánh sáng. Ông tên là Nguyễn chí Thiện, sinh năm 1939, ở tù tổng cộng ba lần cả thảy là 27 năm. Tập thơ được ông đưa vào Toà đại sứ Anh ở Hà Nội ngày 16 tháng 7 năm 1979 để rồi sau đó được chuyển về Anh và cuối cùng đưa qua Hoa Kỳ xuất bản. Tập thơ đã gây chấn động khắp bốn phương vì nội dung chống cộng mãnh liệt của nó cũng như làm xúc động bao trái tim vì những cảnh khổ nhục, đày đọa mà tác giả phải gánh chịu cùng chung với những đồng bào bất hạnh của ông trong những tháng năm lao tù Cộng sản.
Ngoài giá trị nghệ thuật cao, tập thơ còn được coi là một loại sấm ký của thời đại khi tác giả tiên đoán sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng sản trên toàn thế giới.

Tôi tin chắc một điều
Một điều tất yếu
Là ngày mai mặt trời sẽ chiếu
Tôi lại nghĩ một điều
Một điều sâu thẳm
Là đêm tàn Cộng sản tối tăm
Có thể kéo dài hàng mấy mươi năm
Và như thế sẽ buồn lắm lắm
Cho kiếp người sống chẳng bao lăm!

Bài “Tôi tin chắc“ ( 1969)

Đến khi Liên xô và khối Cộng sản Đông Âu sụp đổ năm 1991 thì người ta mới thấy tập thơ Hoa địa ngục có tính tiên tri chính xác của thời đại.
Kèm theo tập thơ là một lá thư viết bằng tiếng Pháp có đoạn như sau:
“… Tôi nghĩ rằng không phải ai khác,mà chính chúng tôi, những nạn nhân có sứ mạng phải phơi bày cho thế giới thấy những khổ nhục không thể tưởng tượng nổi của dân tộc tôi hiện còn đang bị áp bức và hành hạ thẳng tay. Cuộc đời tan nát của tôi chỉ còn một hy vọng là được thấy thế giới ý thức rằng Cộng sản là một bệnh dịch khủng khiếp của nhân loại.
Xin ông nhận nơi đây lòng biết ơn sâu xa của tôi cũng như của những đồng bào bất hạnh của tôi“

Nguyễn chí Thiện ra tù lần sau cùng năm 1991. Cuối năm 1992. ký giả Lewis M. Simons có dến tận nhà ông ở Hà Nội để phỏng vấn ông. Khi được hỏi là ông nghĩ chế độ Cộng sản có thể tồn tại trong bao lâu nữa? Nhà thơ Nguyễn chí Thiện trả lơì là “Tự do và dân chủ sẽ thắng. Đó là một điều chắc chắn. Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ vỡ từ bên trong. Những người lãnh đạo trong đảng sẽ đánh nhau. Đó là tiến trình sẽ xảy ra cho tương lai. Đây là một chế độ công an trị. Người ta không thể nói đến tự do tôn giáo hay dân chủ ở Việt Nam ngày hôm nay. Nhân quyền vẫn ở mức tối thiểu. Chỉ có kinh tế là tương đối bắt đầu được cho tự do còn những thứ tự do khác chỉ được nới lỏng chút xíu mà thôi. Tôi sẽ sống lâu hơn Đảng Cộng sản Việt Nam.“
Bài báo này được báo San Jose Mercury News đăng tải ngày 2 tháng 5 năm 1993 có nhan đề là “Dissident poet calls human rights elusive in Viet Nam“ (Nhà thơ chống đối chế độ nói nhân quyền bị bỏ quên ở Việt Nam).
Bài phỏng vấn trên cho thấy không phải đợi đến lúc ra nước ngoài thì nhà thơ Nguyễn chí Thiện mới dám nói mạnh mà ngay từ khi còn ở trong nước ông đã dám nói thẳng, nói thật một cách không e ngại hay sợ sệt về những điều ông suy nghĩ đối với nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam, bất chấp chuyện phát biểu này có thể gây rắc rối cho ông và có thể đưa ông trở lại nhà tù. Ông được nhiều người Việt hải ngoại coi là một Solzhenitsyn của Việt Nam. Ông đúng là một lọai người “uy vũ bất năng khuất“ đáng kính.
Tác giả Nguyễn chí Thiện qua Mỹ định cư năm 1995 và tiếp tục con đường đấu tranh cho tự do dân chủ và nhân quyền cho đất nước Việt Nam. Ông xứng đáng được đồng bào Việt Nam ngưỡng mộ vì sự can đảm sắt đá, lòng yêu nưóc nồng nàn và trí tuệ thông minh xuất chúng. Ông vẫn tiếp tục dùng sự sống cuối đời nỗ lực không ngừng nghỉ tranh đấu cho một nước Việt Nam tự do, nhân bản, nhân quyền.
Trong những thập niên vừa qua, cuộc chiến tranh Quốc- Cộng đã cho thấy người quốc gioa luôn bị Cộng sản lưà vì ngây thơ nhẹ dạ, tin người. Nhưng có một trường hợp người quốc gia lưà Cộng sản một cú ngoạn mục cho thấy nếu khôn ngoan tỉnh táo, can đảm, người quốc gia vẫn có thể đấu trí và thắng Công sản chứ không phải lúc nào cũng bị lưà
Đó là cuộc họp báo ngày 13 tháng 7 năm 1982 trong đó Cộng sản đưa chiến sĩ Võ đại Tôn ra để nhận tội sau khi chúng bắt được Võ đại Tôn tại Lào khi ông Tôn từ hải ngoại tìm cách xâm nhập vào trong nước để tiến hành cuộc kháng chiến lật đổ bạo quyền Cộng sản. Chắc chắn ông Tôn được dụ dỗ sẽ được khoan hồng này nọ nếu ông ra buổi họp báo thú nhận lỗi lầm chống phá nhà nước Cộng sản.
Bất ngờ trước ông kính cuả ký giả trong và ngoài nưóc, Võ đại Tôn “ phản phé” một cách ngọan mục và nói những lời cứng cỏi để đời như sau;

“Tôi tiếp tục duy trì lập trường chính trị của tôi (để tranh đấu) cho tự do và giải phóng dân tộc. Tôi sẵn sàng nhận bất cứ một bản án nào mà chế độ Cộng sản dành cho tôi”
Khi quyết định nói những lời nảy lửa ngược lại với sự mong muốn của Cộng sản, chắc chắn Võ đại Tôn cũng lường trước sự trả thù nặng nề mà Cộng sản dành cho ông. Bản án nặng nhất mà ông có thể lãnh là tử hình. Cộng sản đã xử tử Trần văn Bá, thì chúng cũng có thể xử tử Võ đại Tôn là loại người từ hải ngoại về nước hoạt động lật đổ chúng. Nhưng số Võ đại Tôn không chết nên sau đó được thả về Úc sum họp với vợ con và đồng hương.
Trong truyện Kiều khi người anh hùng Từ Hải mắc mưu Hồ tôn Hiến để phải chết một cái chết tủi nhục. Cụ Nguyễn Du tả tình cảnh Từ Hải lúc sa cơ thất thế là “Hùm thiêng khi đã sa cơ cũng hèn“. Nhưng với người tù Võ đại Tôn, dù ở trong ngục tù Công sản, vẫn mưu trí đánh Cộng sản bằng một đòn “phản phé” tuyệt đẹp qua cuôc họp báo. Võ đại Tôn đã chứng tỏ mình là “Hùm thiêng khi đã sa cơ .. vẫn hùng“

Hai ngày sau, báo Los Angeles Times đã tường thuật nguyên văn lơì tuyên bố bất hủ của ông Võ đại Tôn. Được sự can thiệp mạnh mẽ của quốc tế, Võ đại Tôn được thả về Úc châu ngày 11 tháng 12 năm 1991 và được đồng hương Việt Nam đón tiếp như một người anh hùng. Ông Tôn hiện nay vẫn tiếp tục công cuộc tranh đấu cho một nước Việt Nam độc lập, tự do và nhân quyền.
Sau bao nhiêu năm đổ xương máu chống ngoại xâm, ngày nay những người Việt Nam yêu nước lại phải vướng vòng tù tội vì phải đứng lên chống chính phủ nội xâm Cộng sản. Chúng đang bán nước cho Trung Cộng và cai trị theo kiểu công an trị, tước đoạt hết quyền làm người của dân tộc Việt Nam.
Thế hệ lớn tuổi đã không ngại ngần xã thân tranh đấu chống lại bạo quyền Việt Cộng như Nguyễn chí Thiện, Nguyễn đan Quế, Võ đại Tôn v.v.. .

Thế hệ trẻ sau này cũng noi bước các bậc lão thành đứng lên dấn thân tranh đấu. Điển hình cho lớp người trẻ nảy là Lê thị Công Nhân, Nguyễn văn Đài, Lê công Định, Nguyễn tiến Trung.

Lê thị Công Nhân sinh năm 1979, tốt nghiệp luật sư. Cô dấn thân tranh đấu và làm phát ngôn viên cho Đảng Thăng Tiến. Cô và Luật sư Nguyễn văn Đài bị đưa ra toà năm 2007 và Công Nhân bị kêu án 4 năm tù kèm 3 năm quản chế.
ltcn.jpg

Trước khi đi tù, Lê thị Công Nhân dõng dạc tuyên bố:
“Tôi sẽ chiến đấu tới cùng dù chỉ còn một mình tôi, trước hết là giành lấy nhân quyền cho chính mình, và giành lấy nhân quyền, dân chủ và tự do cho người Việt Nam. Cộng sản Việt Nam đừng có mong chờ bất kỳ một điều gì dù chỉ là thỏa hiệp, chứ đừng nói là đầu hàng từ phía tôi.
Tôi không thách thức nhưng Cộng sản Việt Nam nếu đã hạ quyết tâm thực hiện những hành vi tội ác bằng cách chà đạp lên nhân quyền của người dân Việt Nam và muốn tiếp tục dìm đất nước Việt Nam trong một sự tăm tối về mặt chính trị, nghèo nàn về mặt kinh tế, lạc hậu về mặt văn hoá, kéo dài cho tới tận đời con cháu của chúng ta cũng như của chính người Cộng sản thì tùy họ có quyền hành xử với những cái gì mà họ có.Gia đình tôi đã chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất có thể xảy ra, đó là tôi sẽ bị khởi tố và có thể bị đi tù. Nhưng tôi xin khẳng định một lần nữa: đó vẫn chưa phải là điều tồi tệ nhất có thể xảy ra.“

Người ta không ngờ cô gái bé bỏng Lê thị Công Nhân lại kiên cường như thế. Rồi cô váo tù như cô đã tiên đoán số phận của mình. Cộng sản Việt Nam bắn tiếng nếu cô muốn đi Mỹ định cư thì chúng sẽ cho cô đi. Cô khước từ và nói cô sẽ đi ngoaị quốc thăm viếng hay du học rồi trở về chứ không đi ngoại quốc như một hình thức trốn chạy lao tù. Cô theo gương sáng của Bác sĩ Nguyễn đan Quế trước đây, từ chối đi định cư ở nước ngoài khi ra khỏi tù với câu nói để đời, “Tự do không phải là lưu đày“
Cho đến giờ phút naỳ, Lê thị Công Nhân đã bị tù hơn 800 ngày. Bà mẹ Trần thị Lệ, một người lúc nào cũng động viên và là nguồn hỗ trợ tinh thần đáng quý cho Công Nhân, cho biết Công Nhân bị bệnh ở mắt và lên tiếng yêu cầu nhà nước Cộng sản thả con bà ra nhưng bọn Cộng sản vẫn làm lơ để keó dài sự giam giữ cô gái kiên cường này.

Linh mục Nguyễn văn Lý sau hơn 3 năm tù tội giờ đây đã có những bệnh hoạn trầm trọng như tai biến mạch máu não, liệt tay, liệt chân. Chúng ta đau xót nhìn hai người tù Nguyễn văn Lý và Lê thị Công Nhân đau đớn quằn quại trong lao tù khắc nghiệt tàn bạo cuả Cộng sản mà không biết làm gì hơn là cầu nguyện cho hai người con yêu của nước Việt Nam sớm thoát cảnh tù tội đau khổ.

Nhà văn Nguyễn xuân Nghĩa, một người đấu tranh bất khuất ở Hải Phòng đã có bài viết nhận xét về người tù đáng kính Công Nhân như sau:
“Tôi không có can đảm để nói với Lê thị Công Nhân rằng tôi ước có một người con gái như cô: bởi ngoài tư chất là một người con gái dịu dàng, xinh đẹp, thông thái, có học vấn, Lê thị Công Nhân còn mang tư chất của một nhân vật của cộng đồng đau khổ và đang biết phản kháng, một thủ lĩnh tinh thần cho ngay cả lớp đã có tuổi như tôi nữa.
.. Còn tôi ví Lê thị Công Nhân như một viên kim cương quý hiếm đã được mài giũa rực sáng lên, cả trong đời thường và trong một môi trường chính trị.

.. Nhưng có lẽ nào chúng ta chỉ có thể làm được đến thế!? Thế giới văn minh phát triển về nhân văn, nhân quyền, văn hoá và kinh tế, không lẽ chúng ta chỉ làm được như vậy đối với công cuộc đấu tranh giành nhân quyền, dân chủ và tự do của người Việt chúng ta? Tôi xin nhắc lại đoạn kêu gọi này cuả nữ Luật sư Lê thị Công Nhân từ Hà nội gửi qua cuộc biểu tình cuả Cộng đồng người Việt tại Nam California trước khi cô bị bắt, và xin gửi thêm vào đó tiếng nói của tôi với toàn thể anh chị em hoạt động dân chủ trong nước, cộng đồng người Việt Nam yêu quý của tổ quốc đang sinh sống ở nước ngoài, các cá nhân, tổ chức quốc tế đồng cảm với sự đau khổ của đại đa số nhân dân Việt Nam và chính phủ, quốc hội các nước quan tâm đến Việt Nam rằng “Hãy làm một cái gì đó để không ân hận?""
Hải phòng đêm 9 tháng 3 năm 2007

Nhà văn Nguyễn xuân Nghĩa giờ đây cũng đang bị tù tội vì đấu tranh cho dân chủ nhân quyền. Cộng sản Việt Nam chỉ có một đòn phép duy nhất là tù tội để trấn áp và đe doạ những người đấu tranh nhưng đối với những con người đấu tranh bất khuất như Lê thị Công Nhân và Nguyễn xuân Nghĩa thì biện pháp tù đày xem ra không có kết quả mà trái lại càng hun đúc tinh thần đấu tranh thêm vững chắc và kiên định.

Một người trẻ khác không kém quả cảm dấn thân tranh đấu là Luật sư Lê công Định. Lê công Định tốt nghiệp luật sư ở Việt Nam, có tu nghiệp về luật ở Mỹ một thời gian, có vợ là hoa hâụ, có nhà ở khu Phú Mỹ Hưng sang trọng ở Sài gòn. Nói chung Định có một đời sống sung túc, giàu sang, nhưng Định không thề bịt mắt, che tai trước sự khốn khổ, lầm than, mất nhân quyền của đồng bào thấp cổ bé miệng của anh. Nếu làm lơ trước cảnh nhân dân sống đời thiếu thốn, khổ cực, đất nước ngày càng lệ thuộc vào bọn ngoại xâm Trung Cộng,

Lê công Định có thể tiếp tục sống đời giàu sang, phú quý bên vợ đẹp con khôn mà không ai có quyền phiền trách anh cả. Nhưng rõ ràng anh không chịu nổi trước những bất công sai trái xảy ra hàng ngày trước mắt anh. Lương tâm anh thúc dục anh phải lên tiếng dù anh biết anh sẽ phải trả giá rất đắt vì những hoạt động chính trị của mình.

Anh bắt đầu viết những bài viết nói ra những sự trăn trở, bức xúc trước tình trạng suy thoái về kinh tế, lạc hậu về văn hoá của xã hội Việt Nam hiện nay. Một số bài viết của anh đăng trên mạng của Đài BBC có tiếng vang rất lớn khắp nơi. Nhân dân Việt Nam đã nhìn thấy cái tâm, cái lòng trong sáng như trăng rằm của anh. Anh đau cái đau của dân, dấn thân tranh đấu để mang lại quyền lợi thiết thực cho nước cho dân.

Trong bài viết “Trả lại hào khí Diên Hồng“ anh khẩn thiết nói lên tâm huyết của một người con dân Việt Nam yêu nước, bày tỏ lòng chân thành tha thiết muốn tức khắc hành động để cưú nước, cứư dân:
“… Vì nhu nhược, chúng ta không dám phản kháng thói hạch sách, nhũng nhiễu của lớp quan lại mới, chấp nhận dùng tiền vượt qua trở ngại. Đến khi nhìn lại, quốc nạn tham nhũng và quan liêu đã lan tràn bất trị
Vì nhu nhược, chúng ta che tai không dám nghe lời nói ngay thẳng, mặc nhiên dung túng sự dối trá và xu nịnh. Đến khi bừng dậy, đạo đức đã suy đồi, khó sưả
Vì nhu nhược, chúng ta hài lòng với những gì đang có, cố tin vào sự ổn định giả tạo, đắm mình vào những lễ hội vô nghĩa, liên miên, Đến khi nhìn lại, xung quanh đã đầy dẫy ung nhọt, không còn thuốc chữa.
Vì nhu nhược chúng ta bịt mắt trước những bước đi vũ bão của các dân tộc láng giềng. Đến khi tỉnh ngộ, sự tụt hậu quá rõ ràng, không còn cơ may rút ngắn khoảng cách.
Để che giấu mặc cảm do nhu nhược, khắp nơi người ta kể nhau nghe những bài vè châm biếm hoặc lớn tiếng dè bĩu chuyện cung đình tồi tệ, nhưng lại trong… quán nhậu! Chí khí kiểu “sĩ phu Bắc Hà“ ấy liệu sẽ giúp ích được gì cho công cuộc chấn hưng đất nước đang lúc cần hào khí Diên Hồng năm xưa?
Muốn chấn hưng đất nước trong vận hội ngàn năm có một này cần phải rũ bỏ sự nhu nhược đó. Muôn người xin hãy nắm tay lại, chế ngự sự sợ hãi, cùng tiến về phía trước,may ra khát vọng Đại Việt mới có cơ may biến thành hiện thực. Xin đừng dể sự nhu nhược của những cá nhân trở thành sự bạc nhược của cả một dân tộc".
(Tháng 3 năm 2006)

Lê công Định như một người thầy thuốc tài giỏi chẩn mạch và định bệnh rất chính xác căn bệnh lạc hâụ trầm kha của xã hội Việt Nam hiện tại. Anh chỉ rõ vì đa số dân chúng nhu nhược mà đất nước tiếp tục đi xuống về mọi mặt một cách tồi tệ không lối thoát. Nhưng anh không nói chỉ dể nói, Từ nhận thức anh đi đến hành động là phá vỡ sự nhu nhược trong người và dũng cảm dấn thân tranh đấu để dẹp bỏ bất công, phục hồi quyền làm người cho đồng bào anh vốn bị tước đoạt thô bạo bởi bọn nội xâm cai trị hiện nay.
Cái đáng quý và đáng kính của Lê công Định là ở chỗ đó. Cái giá anh phải trả là tù ngục giam cầm. Bản án kết tội anh là kết tội người yêu nước của bọn cầm quyền bán nước cho ngoại bang hiện nay.

Nhà thơ Hoàng Hưng cực kỳ xúc động trước bài viết trên của Lê công Định nên viết bài “Các bạn ơi, tôi yêu các bạn!“ để chia xẻ sự đồng tình và bày tỏ lòng thương mến, sự cảm phục thiết tha, chân thành đến lòng yêu nước, thương dân của Lê công Định. Hoàng Hưng viết:
“… Anh và những người bạn cùng chí hướng thuộc thế hệ hậu chiến như Nguyễn văn Đài, Lê thị Công Nhân, Nguyễn tiến Trung, Lê trần Luật..đã cải chính trước nhân dân và cộng đồng quốc tế rằng: người trí thức Việt Nam không ngu, không “ ngủ”, không bất lực, sau gần nửa thế kỷ mấy thế hệ chúng tôi đã liên tục ngu, “ ngủ”, hèn, bất lực ( hay cả 4 thứ ấy ), để đến khi sức sắp tàn, lực sắp kiệt, thậm chí có những người đã nhắm mắt xuôi tay, mới vượt qua được cái ngu cái hèn mà nói lên một lời ai điếu cho cuộc đời lầm lỗi của mình, một lời trối trăng cho con cháu.
Anh và các bạn khiến tôi tin tưởng mãnh liệt vào tương lai một nuớc Việt Nam ngẩng đầu sánh với bè bạn năm châu mà không tủi hổ như hôm nay trong thân phận một quốc gia bị xếp cuối bảng về thành tích kinh tế và nhân quyền
Chính vì thế, hôm nay, một người đã chảy nước mắt vì cảm phục khi xem đoạn băng trên truyền hình chiếu cảnh cô gái bé nhỏ Lê thị Công Nhân trả lời công an, “Tôi sẽ chiến đấu dù chỉ còn một người chiến đấu cho dân chủ“, nhưng chưa đủ mạnh để viết một dòng về chị. Hôm nay tôi xin nói to lên với mọi người rằng: “Các bạn ơi, tôi yêu các bạn“
(Paris 18/ 6 / 2009)

Người Việt trong và ngoài nước đều có cảm giác xót thương như nhà thơ Hoàng Hưng về người anh thư bé bỏng nhưng can trường Lê thị Công Nhân, một minh chống đỡ bầy lang sói độc ác, tàn nhẫn đang đày đọa chị. Bọn nội xâm cầm quyền bây giờ hành xử như ông vua bán nước cầu vinh Lê chiêu Thống ngày xưa. Chúng sẵn sàng bán nước cho Trung Cộng để đổi lại được Trung Cộng bảo kê cho quyền hành cai trị của chúng. Hoàng Sa, Trường Sa mất rồi, Ải Nam Quan cũng vào tay Trung Cộng một cách không kèn không trống.
Những người biểu tình hô hào chủ quyền Việt Nam trên Hoàng Sa, Trừơng Sa cũng bị nhốt vào tù như nhà báo Điếu Cày. Không ai có thể tưởng tượng ở Việt Nam ngày nay nếu ai kêu gọi chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường sa là của Việt Nam thì người đó sẽ bị lôi thôi với công an ngay. Thật là quái đản không thể tưởng tượng khi một người Việt Nam lại không thể kêu gọi chủ quyền cho lãnh thổ quê hương mình.

Nhà nước Việt Nam hèn đến độ khi có sự cố tàu Trung Cộng tấn công tàu đánh cá Việt Nam thì các cơ quan truyền thông của Việt Cộng không dám nêu đích danh tàu Trung Cộng mà chỉ nói là “ tàu lạ”. Hèn hạ, khiếp nhược đến thế là cùng!

Rồi đến chuyện khai thác bô-xít ở Tây Nguyên. Nhiều nhà khoa học Việt Nam đã lên tiếng can gián chuyện Trung Cộng khai thác ở Tây nguyên vì làm như thế là ô nhiễm môi trường sống và còn ảnh hưởng đến vấn đề sinh thái, văn hoá cho toàn vùng cao nguyên. Nhưng những lơì khuyên can chân thành, thống thiết cũng như nước đổ đầu vịt, Cộng sản Việt Nam vẫn để cho Trung Cộng khai thác bô-xít ở Tây nguyên và chắc chắn sẽ để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng cho đất nước và con người Việt Nam. Cộng sản Việt Nam giờ đây trởø thành tay sai ngoan ngoãn và đắc lực cho Trung Cộng rồi và sẵn sàng thi hành lệnh của quan thầy Trung Cộng một cách vô điều kiện, không nghĩ gì đến quyền lợi của đất nước gì nữa cả.

Ba nhà trí thức Nguyễn huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn thế Hùng thành lập trang mạng bô-xit để mong gióng tiếng chuông cảnh tỉnh cho nhà cầm quyền ngu dốt Cộng sản Việt Nam thì trang mạng này bị đánh sập nhiều lần hòng bịt miệng những ai chống lại chuyện khai thác Bô-xit. (Có thể vào www.boxitvn.net hay http://bauxitevietnam.free.fr để đọc những bài viết về bô-xít).Cộng sản Việt Nam ngu xuẩn và tồi bại đến thế là cùng! Người ta không hiểu chính quyền hiện nay là do người Việt cầm quyền hay người Tàu cầm quyền nữa?

Loại anh hùng Điện Biên Phủ như ông Đại tướng Võ nguyên Giáp năm nay gần 100 tuổi trở thành một thứ Ông bình vôi hèn nhát khiếp nhược bịt tai, ngậm miệng không dám đưa ra một lời phản đối về chuyện Cộng sản Việt Nam bán nước cho Trung Cộng. Nếu không có những người yêu nước đứng lên tranh đấu thì không biết đất nước sẽ đi về đâu nữa.?

Nguyễn Trãi có câu nói khá hay
“Dẫu cường nhược có lúc khác nhau. Song hào kiệt thời nào cũng có“.

Những nhà tranh đấu trẻ như Lê thị Công Nhân, Lê công Định, Nguyễn tiến Trung, Nguyễn văn Đài, Phạm thanh Nghiên, Ngô Quỳnh, Lê thăng long, Trần huỳnh Duy Thức. v.v... xứng đáng là những hào kiệt của thời đại hôm nay. Họ có nhiệt huyết và sự can đảm khác thường và chắc chắn sẽ làm nên lịch sử. Bổn phận của người Việt hải ngoại là phải tiếp tay bằng vật chất và tinh thần cho những người trẻ anh hùng này cũng như những nhà tranh đấu khác.

Khi có người đấu tranh bị tù tội là hải ngoại lập tức giúp đỡ vật chất cho gia đình người tù có phương tiện đi thăm nuôi người tranh đấu đang ở tù. Nếu có thể xin tiếp tục giúp đỡ cho sinh kế gia đình người tù. Làm như vậy là giúp người tù giữ tinh thần trong lao tù Cộng sản vì họ biết rằng gia đình họ bên ngoài đã được hải ngoại lo lắng, Chuyện này dã được một số người có lòng ở Úc đã làm khi nghe tin nhà văn Trần khải Thanh Thủy bị tù tội. Mong sao chuyện làm tốt lành và ý nghĩa này sẽ được phát huy nhiều hơn nữa.
Đừng bao giờ trông mong vào bọn ngoại quốc mắt xanh mũi lõ can thiệp, chận đứng sự đàn áp bắt bớ của Cộng sản đối với những người đấu tranh cho dân chủ. Bọn tư bản ngoại quốc luôn suốt ngày bận rộn đầu tư và làm ăn với Cộng sản Việt Nam và chỉ lên tiếng lấy lệ khi thấy Cộng sản Việt Nam trắng trợn vi phạm nhân quyền này nọ. Chính người Việt Nam phải cứu lấy quê hương giống nòi chúng ta chứ không thể trông cậy vào người khác. ‘Vọng ngoâi tắc tử‘ là câu nói ông cha ta đã cảnh cáo chúng ta từ nhiều năm trước.

Quê hương Việt Nam đang mòn mỏi đau khổ và mất máu từng ngày. Phải mạnh dạn cương quyết lên đường giải cứu quê hương trước khi quá trễ.
Los Angeles, một ngày mùa Đông khô lạnh, đìu hiu cuối tháng 2 năm 2010
TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG
Email : dalatogo@yahoo.com dalatogo@yahoo.com