Tuesday, January 19, 2016

Những sự thật cần phải biết (Phần 35): Tội đồ Hùng “hói”

I.Hùng”hói” tham nhũng:
Nguyễn Sinh Hùng
Nguyễn Sinh Hùng
Về lai lịch của Nguyễn Sinh Hùng (Hùng “hói”) thì nhà cầm quyền cộng sản cho biết như sau:
“Tiểu sử Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng
– Ngày sinh: 18/1/1946 – Quê quán: Xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An – Ngày vào Đảng: 26/5/1977 – Ngày chính thức: 26/5/1978 – Trình độ được đào tạo: + Giáo dục phổ thông: 10/10 + Chuyên môn nghiệp vụ: Kinh tế, Tài chính – Kế toán + Học hàm, học vị: Tiến sĩ + Ngoại ngữ: Bulgari D – Khen thưởng: Huân chương Lao động hạng 1 (năm 2002); Huân chương Itsara hạng 1 của Lào (năm 2007) – Ủy viên Trung ương Đảng khóa 8, 9, 10 và 11 – Ủy viên Bộ Chính trị khóa 10, 11 – Đại biểu Quốc hội khóa 10, 11, 12, 13
Tóm tắt quá trình công tác
9/1966-12/1970: Sinh viên ĐH Tài chính – Kế toán Hà Nội 1/1972-12/1977: Cán bộ Ngân hàng Kiến thiết Trung ương, Bộ Tài chính 1/1978-9/1982: Nghiên cứu sinh tại ĐH Kinh tế Các Mác, Bungari 10/1982-10/1986: Phụ trách Phòng Tổng hợp rồi Trưởng Phòng Tổng hợp, Phó Vụ trưởng, sau là Vụ trưởng Đầu tư xây dựng cơ bản, Bộ Tài chính. 10/1986-1/1990: Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy cơ quan, Chánh văn phòng Bộ Tài chính; Ủy viên Ban chấp hành Đảng bộ Khối Kinh tế Trung ương. 2/1990-9/1992: Cục trưởng Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính.
10/1992-11/1996: Phó Bí thư Ban cán sự Đảng, Thứ trưởng Bộ Tài chính. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ 8 của Đảng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng. Phó Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ Tài chính. 11/1996-6/2006: Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban cán sự Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 9 của Đảng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng; đại biểu Quốc hội khóa 10, 11. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 10 của Đảng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị. Từ 7/2006 đến nay: Ủy viên Bộ Chính trị, Phó thủ tướng thường trực Chính phủ. Phó bí thư Ban cán sự Đảng Chính phủ; đại biểu Quốc hội khóa 12. Trưởng Ban chỉ đạo Tây Nam Bộ. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 11 của Đảng được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng, được Trung ương bầu vào Bộ Chính trị; đại biểu Quốc hội khóa 13.”.

Hoàng Văn Chánh và Hùng hói
Hoàng Văn Chánh và Hùng hói

    Chuyện ngoài lề của Hùng”hói” cũng có nhiều điều để nói. Việc đầu tiên đó là sau khi nhờ Hoàng Văn Chánh (Cựu giám độc Điện Lực Đống Đa – Hà Nội) phát hiện vợ cũ ngoại tình thì chính Chánh mai mối cho Hùng hói gặp được cô vợ hai gôc Nam Định vốn xuất thân từ một thợ “cắt tóc gội đầu thư giãn’ (Gái bán dâm trá hình ở Việt Nam). Vợ hai của Nguyễn Sinh Hùng là Lê Thị Mai Hương, sinh năm 1969 (chỉ hơn cậu con trai đầu Nguyễn Sinh Nhật Tân vài tuổi).
    Ngoài các hệ thống ngân hàng và các định chế tài chính quan trọng mà Chánh gián tiếp lũng đoạn nhờ sự chống lưng của Nguyễn Sinh Hùng thì Chánh còn trực tiếp đứng sau hàng loạt các doanh nghiệp, trong đó có nhiều doanh nghiệp “ma” để “kinh doanh dự án” là chính như
  Công ty Cổ phần Đức Hoàng (địa chỉ: 28B Phạm Hồng Thái, Trúc Bạch, Ba Đình, Hà Nội), 
Công ty Cổ phần Xây dựng và Sản xuất nội thất KB (281Khâm Thiên, Đống Đa, Hà Nội),
 Công Ty Cổ Phần Tập Đoàn Zinnia (263 Thụy Khuê – Quận Ba Đình, Hà Nội, Việt Nam),
 Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây Dựng Việt Thành (Số 475 Trần Khắc Chân, P. Thanh Nhàn, Q. Hai Bà Trưng, Hà Nội),
 Công ty CP Đầu tư Bình Minh Xanh (H10 Ngõ 132 Trung Kính P. Yên Hòa, Q. Cầu Giấy, Hà Nội),
 Công ty Cổ phần Thương mại Minh Đức Lộc (Số 326 Đường Lạc Long Quân Q. Tây Hồ Thành phố Hà Nội) vv…
   Chánh ra mặt thay Hùng hói điều hành nhưng thực chất là làm động tác rửa tiền và cướp đoạt đất đai của người dân cho Nguyễn Sinh Hùng (Hùng hói).

Hùng hói và cô vợ vốn là gái “tẩm quất”
Hùng hói và cô vợ vốn là gái “tẩm quất”
  Cũng liên quan đến Nguyễn Sinh Hùng đó là việc Hùng hói bầy ra việc “Xây khu thờ tự cho dòng họ của Hồ Chí Minh”. Theo tin từ báo dân trí của cộng sản đưa tin:” Ngày 10/6, tại núi Chung (xã Kim Liên, huyện Nam Đàn), Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Nghệ An đã long trọng tổ chức lễ khởi công xây dựng Đền thờ các cụ thân sinh và anh chị em ruột trong gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh…

Hùng hói tại lễ khởi công đền thờ khủng
Hùng hói tại lễ khởi công đền thờ khủng

 Tới dự buổi lễ khởi công có ông Nguyễn Sinh Hùng – Ủy viên Bộ Chính trị – Chủ tịch Quốc hội; ông Lê Thanh Hải – Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy TP Hồ Chí Minh; ông Vương Đình Huệ – Ủy viên TƯ Đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính; ông Nguyễn Văn Bình – Ủy viên TƯ Đảng, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Đại diện Bộ, Cục, Vụ, Viện thuộc Bộ VHTT&DL;… cùng lãnh đạo nhân dân tỉnh Nghệ An….”. (Links: http://dantri.com.vn/chinh-tri/xay-dung-den-tho-nguoi-than-trong-gia-dinh-chu-tich-ho-chi-minh-605819.htm ).
Được biết công trình này Hùng hói đã vẽ ra trên diện tích hơn 100 ha với gần 200 tỷ để thờ, tổ cha anh em dòng họ Hồ Chí Minh.

Phối cảnh khu đền thờ khủng
Phối cảnh khu đền thờ khủng
  
Tác phẩm của giáo sư Trần Quốc Vượng
Tác phẩm của giáo sư Trần Quốc Vượng

Tổ của Nguyễn Sinh Hùng là ai và đã làm được gì cho đất nước này mà phải lấy tiền tỷ của dân để xây thờ ? 
   Xung quanh chuyện này thì cuốn sách biên khảo của Giáo sư Trần Quốc Vượng đã giúp hé lộ sự thật:
“…Nhưng đây không phải là chuyện cu. Hồ, tuy cũng có dính dáng đến cu. Hồ. Mà vì đây là chuyện cụ thân sinh ra cu. Hồ, cu. Nguyễn Sinh Huy, mà cũng là chuyện truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, Folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử, như tôi đã nói từ đầu bài này.
Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc dòng máu mủ của ho. Nguyễn Sinh làng này. Mà là con của một người khác: ông đồ nho – cử nhân – Hồ Sĩ Tạo.
Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ, đây cũng là quê hương Hoàng Văn Hoan, người đồng chí thân cận một thời của cụ Hồ Chí Minh, được cụ Hồ giao phụ trách công tác đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa thời kháng chiến chống Pháp và là Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa, hiện sống lưu vong ở Trung Hoa, có viết một tài liệu lịch sử làng Quỳnh Đôi, quê ông. Bà vợ nhà văn lớn Đặng Thái Mai – người một thời làm Viện trưởng viện Văn Học – là Hồ Thị Toan, cũng thuộc dòng ho. Hồ này ở làng Quỳnh Đôi). Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX) cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen (Kim Liên). Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có “phường hát ả đào”.
Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là múa Đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô Đèn. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc (như Đặng Trần Côn viết mở đầu khúc Chinh Phụ Ngâm “hồng nhan đa truân” – gái má hồng nhiều nỗi truân chuyên. Hay như Nguyễn Du than thở dùm người đẹp tài hoa trong truyện Kiều “chữ tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau”, “rằng hồng nhan tự thuở xưa, cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”). Vả ở thời ấy, dưới chế độ quân chủ nho giáo, lấy Tứ Dân (Sĩ, Nông, Công, Thương) làm gốc, người ta vẫn xem thường nghề ca xướng và con nhà ca xướng (“xướng ca vô loài”). Cô Đèn Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén” là lẽ thường theo tâm lý dân gian, huống chi là giữa văn nhân – tài tử – giai nhân. “Trai tài gái sắc” mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng “không chồng mà chửa”. Mà ông cử Tạo thì đã có vợ, có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề, sỉ nhục hạng gái “chửa hoang”, hạng “gian phu dâm phụ”. Để tránh nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm “thầy đồ” được hết sức kính trọng trong nhà mình, họ Hà phải bù đầu suy tính…
Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ (bà vợ trước đã có một con trai – Nguyễn Sinh Thuyết – và người con trai này cũng đã có vợ). Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đình, “cho không” cô Hy làm vợ kế ông này – như một người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ thì, lấy ông già góa vợ – mong ém nhém việc cô gái đã “to bụng”.
Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới, có cheo cẩn thận. Việc phạt vạ của làng không thể xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc thì bao đêm khóc thầm vì bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn “của thừa”, “người ăn ốc (ông cử Tạo), kẻ đổ vỏ (cụ lão nông Nhậm)”. “Miệng tiếng thế gian xì xầm”, ai mà bịt miệng nổi dân làng. Mà trước hết là lời “nói ra, nói vào”, lời chì chiết của nàng dâu – vợ anh Thuyết – vốn nổi tiếng ngoa ngoắt, lắm điều. Ông Nhậm đành cho con trai và vợ anh ta ra ở riêng, và mình ở riêng với bà vợ kế.
Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc, lấy họ ông mặc dù ông biết rõ hơn ai hết đó không phải là con ông, con nhà họ Nguyễn Sinh này. Nàng dâu ông càng “tiếng bấc, tiếng chì” hơn trước, vì ngoài việc bố chồng “rước của tội, của nợ”, “lấy đĩ làm vợ” thì nay còn nỗi lo”: người con trai này – được ông nhận làm con – lớn lên sẽ được quyền chia xẻ cái gia tài vốn cũng chẳng nhiều nhặn gì của một gia đình nông phu thôn dã. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).
Vì trọng tuổi, lại vì lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên bốn, về ở với người anh gọi là “cùng cha khác mẹ” mà thật ra là “khác cả cha lẫn mẹ”, cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ muốn tống cổ cái thằng “em hờ” của chồng này đi cho “rảnh nợ”.
Không cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về vật chất như thế nào trong cái cảnh nhà Nguyễn Sinh như vậy. Ta cảm thấy vô cùng thương xót một đứa trẻ mồ côi sớm chịu cảnh ngang trái của cuộc đời. Bên ngoại thì ông bà đều đã mất, họ Hà chẳng còn ai chịu cưu mang đứa trẻ có số kiếp hẩm hiu này.
May có ông tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa (Hoàng Trù) gần đó, xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác, lại có vẻ sáng dạ, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu lòng – Hoàng Thị Loan – mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ở riêng.
Ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Sinh Sắc gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ – làng Chùa – hơn là với làng Sơn “quê nội”, quê cha “hờ”. Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi ông cả Đạt) đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành – sau này là Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên ở làng Chùa bên quê Mẹ hay là quê “ngoại”. Khi cụ tú Hoàng (Hoàng Xuân Đường) mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà đồ (tú) Hoàng. Các cháu đều quấn quít quanh bà ngoại.
Qua giỗ đầu cụ tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng “học điền”, ruộng công của làng Chùa chia cho những người có học (nhằm khuyến khích việc học) để học thêm – chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), ông thi trượt.
Nhờ sự vận động gửi gấm của ông Hồ Sĩ Tạo – người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc – với các quan lại đồng liêu quen biết ở triều đình Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế. (Ai cũng biết: để được nhận vào học Quốc Tử Giám và làm Giám sinh phải là con cháu của những gia đình có thế lực, gọi là “danh gia tử đệ”. Nếu không có sự “can thiệp” của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cao quan thì làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một “cử chỉ đẹp” với đứa con mà mình không dám nhận). Nguyễn Sinh Sắc – đổi tên là Nguyễn Sinh Huy – đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898), ông lại trượt.
Ngày 22 tháng chạp năm Canh Tý (10-2-1901) bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh ngày nay) trở thành con trai út.
Nguyễn Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng chăm sóc dùm rồi trở vào Kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu phó bảng và được “vinh quy bái tổ” về làng.
Theo thể thức triều đình, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội – dù là quê nội danh nghĩa – tức là làng Sen – Kim Liên. Hội đồng Hương lý và dân xã đã dựng nhà tranh năm gian (chứ không phải nhà ngói) trên một khoảnh đất vườn làng Sen, để đón quan phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về làng.
Thế là buộc lòng ông phải về “quê nội”. Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh Côn – Hồ Chí Minh ngày sau – về ở quê nội nhưng thân ông, lòng ông vẫn hướng về quê ngoại là cái gì “đích thực” và gắn bó với tuổi tho ông. Ông phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.
Nhưng gia đình ông phó bảng cùng hai con trai cũng không ở lâu tại Kim Liên. Chưa đầy ba năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô Huế nhận chức quan (1904) ở bô. Lễ, đem theo hai con trai vào Huế học. Năm 1907, ông bị đổi đi tri huyện Bình Khê … Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan), khoảng 1910, ông phiêu bạt vô Sàigòn rồi lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa.
Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đình riêng.
Người ta bảo lúc sau khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái “bí mật” về cội nguồn của cụ phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông sang Quỳnh Đôi nhận họ.
Còn Nguyễn Sinh Côn – Nguyễn Tất Thành – có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông biết? Hay là trước đó nữa, khi ông ở làng Chùa quê ngoại gần gụi với làng Sen! Hay là sau đó nữa chả nhẽ không khi nào cụ phó bảng hay bà Thanh hay ông Cả Đạt lại không kể với ông về “bí mật” của gốc tích phụ thân mình?
Không có chứng cớ gì về việc ông Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc – biết hay không biết chuyện này…
Sau này, khi hoạt động cách mạng, ông còn mang nhiều tên khác nữa.
Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, thì người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh.
Sau cách mạng tháng tám 1945, khi tên tuổi Hồ Chí Minh trở thành công khai thì cũng bắt đầu từ đó dân gian Việt Nam – từ trí thức đến người dân quê – lại âm thầm bàn tán: vì sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là Hồ Chí Minh? Và tên này cụ giữ mãi cho tới khi “về với Các Mác, Lê-nin” năm 1969.
Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh – còn quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng gì một cái tên! Và biết làm sao được khi cụ Hồ – tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức của người Ấn Độ – đã trở thành “huyền thoại” (myth). Huyền thoại Hồ Chí Minh được hình thành trong vô thức dân gian (popular inconscience) mà Carl Gustav Jung gọi là vô thức tập thể. Nhưng nó cũng có phần được hình thành một cách hữu thức, bởi một số cán bộ gần cận cụ Hồ. Nghĩa là một phần cuộc đời cụ Hồ đã được huyền thoại hóa (mystified).
Ngay sau cách mạng tháng Tám, người ta còn in cả cuốn sách (mỏng thôi!) về Sấm Trạng Trình có những câu vận vào cụ Hồ và sự nghiệp cách mạng tháng Tám. Và Sấm Trạng Trình vẫn được vận vào cụ Hồ còn lâu về sau nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù là với hậu ý (arrière-pensée) không ưa gì cụ Hồ.
Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.
Trở lại với cái tên Hồ Chí Minh, lời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.
Và dân làng Sen cũng bảo: Thì cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau cách mạng, sau mấy chục năm xa quê (15-6-1957), từ thị xã Vinh – tỉnh Nghệ An – cụ Hồ đã về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen “quê nội”.
Riêng tôi nghĩ, thì cũng phải thôi. Vì như ở trên ta đã thấy, cả một thời thơ ấu của cụ Hồ là gắn bó với quê ngoại làng Chùa, nơi cụ sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải làng Sen, là nơi cụ chỉ ở có vài năm, lại là khi đã bắt đầu khôn lớn?
Tôi không muốn có bất cứ kết luận “khoa học” gì về bài viết này. Vì nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm, hay là cái “mặc cảm” của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán Siêu, Chu Văn An) đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng quê.”.
Để nói về những phát ngôn dốt nát của Nguyễn Sinh Hùng thì chúng ta có thể thấy ví như: “Với những chính sách điều chỉnh thị trường hiện nay, tôi đảm bảo TTCK sẽ lên giá và có chất lượng hơn. Nếu là nhà đầu tư chứng khoán thì lúc này tôi sẽ mua cổ phiếu”. Trả lời phỏng vấn Báo Tuổi trẻ ngày 6/3/2008 (Links: http://nld.com.vn/217238P1010C1002/that-chat-nhung-phai-linh-hoat.htm).
Rồi chính Hùng hói nói: “Thị trường đã giảm đến đáy, nên trong điều hành Chính phủ quyết tâm không để giảm thêm. Thời điểm này, nếu nhà đầu tư nào bán tháo cổ phiếu thì sẽ thất bại, ngược lại người nào có quyết định mua vào thông minh sẽ thắng”. (Links: http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-vn/75/43/2/2/97/28457/Default.aspx ). 
    Nhưng sau đó thì chỉ số giá chứng khoán đang đứng ở mức khoảng trên dưới 600 điểm, sau thời điểm Hùng hói phát biểu thì mọi người đều biết giá chứng khoán đã đi xuống một lèo và đáy thực sự của TTCK là khoảng 220 điểm. Rõ ràng Hùng hói có trình độ quản lý kinh tế dạng “I tờ”.
Ngày 8/6/2010, Hùng hói vừa cười vô tư vừa nói: “Tôi thì vẫn chưa lo” khi được các phóng viên hỏi về những lo ngại về hiệu quả kinh doanh tại Vinashin trong kỳ họp Quốc hội. Chỉ 1 tháng sau, tháng 7/2010, thông tin về vụ bê bối ở Vinashin bung ra (Links: http://dantri.com.vn/c20/s20-401064/co-su-lan-lon-giua-thu-nhap-va-luong-tai-scic.htm). 
   Đây là bằng chứng cho thấy thái độ vô trách nhiệm của Hùng hói trước những đồng tiền thuế của dân đang trôi theo bọt nước.

Hùng hói tham nhũng và dốt nát
Hùng hói tham nhũng và dốt nát

Một phát biểu dốt nát của Hùng hói chính là “Việt Nam không thể không làm đường sắt cao tốc” khi Trả lời chất vấn trước Quốc hội vào ngày 12/6/2010 (Links: http://vneconomy.vn/20100612021457983p0c9920/pho-thu-tuong-khong-the-khong-lam-duong-sat-cao-toc.htm ).
    Một câu nói dốt nát của Nguyễn Sinh Hùng. Ngoài ra Hùng hói còn nổ tưng bừng khi tuyên bố: “GDP năm nay của Việt Nam tuy chỉ có 106 tỷ USD, nhưng đến 2020 sẽ tăng lên 300 tỷ USD và năm 2030 là 700 tỷ, đến 2040 ước đoán cỡ 1,2 – 1,4 nghìn tỷ USD. Đến 2050, khi hoàn thành toàn tuyến, con số đó dự kiến sẽ tăng gấp đôi”. “Thu nhập bình quân đầu người hiện nay là 1.200 USD, nhưng với tốc độ tăng trưởng kinh tế tương lai thì đến 2020 sẽ là 3.000 USD, và lần lượt tăng lên mức 6.000, rồi 12.000 và sẽ đạt 20.000 vào năm 2050”. (Links: http://vneconomy.vn/20100612021457983p0c9920/pho-thu-tuong-khong-the-khong-lam-duong-sat-cao-toc.htm ).
    Để minh chứng cho hành động tham nhũng và tuyên bố hết sức bao biện cho tham nhũng thì Hùng hói nói:”Sai thì phải sửa, làm 10 việc tốt cũng có thể có một việc sai. Nếu cách chức hết thì lấy ai làm việc. Cứ nói theo quy định của pháp luật, nhưng pháp luật cũng có cái đạo, cứ dẹp đi là bầu không kịp”. (Links: http://vneconomy.vn/20100612021457983p0c9920/pho-thu-tuong-khong-the-khong-lam-duong-sat-cao-toc.htm ). Rồi Hùng hói khẳng định thêm: “Không tham nhũng lấy đâu tiền mà chạy chức vụ này chức vụ kia…”. (Links: http://www.tienphong.vn/xa-hoi/646715/Khong-tham-nhung-lay-dau-tien-ma-chay-chuc-tpov.html ).
Để tìm hiểu thêm về tham nhũng phe nhóm của Hùng hói trong vụ ngân hàng Bảo Việt mời bạn đọc tìm hiểu tại 3 links sau:
Ngoài ra, việc Trần Sĩ Thanh, sinh năm 1972, Phó bí thư tỉnh ủy Darlac là cháu của Nguyễn Sinh Hùng cũng là một nguồn kiếm tiền và rửa tiền thông qua những dự án trồng rừng và chế biến lâm sản cho vợ chồng Hùng hói.

II. Tích cực bán nước:

Hùng hói là một tên tham gia tích cực vào hệ thống bán nước của cộng sản Việt Nam. Để minh chứng cho những hành động đó xin cụ thể một số dẫn chứng sau đây.
Hùng hói và Lý Khắc Cường
Hùng hói và Lý Khắc Cường

Thứ nhất, Hùng hói đã ton hót với Lý Khắc Cường – thủ tướng Tàu trong chuyến công cán của Cường ngay sau lễ tang ông Giáp như sau:
Tiếp Thủ tướng Lý Khắc Cường tại trụ sở Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng khẳng định Quốc hội Việt Nam sẽ làm hết sức mình để cùng Đảng, Chính phủ Việt Nam không ngừng củng cố và phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc.
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng mong muốn trong thời gian tới, Quốc hội hai nước sẽ tiếp tục đẩy mạnh giao lưu, trao đổi đoàn, trao đổi thông tin và kinh nghiệm một cách thiết thực và hiệu quả cũng như tăng cường sự phối hợp trên các diễn đàn Nghị viện khu vực và quốc tế, góp phần thúc đẩy sự hợp tác của Chính phủ và các bộ, ngành hai nước ngày càng hiệu quả”.
Báo chí lề đảng đưa tin về việc ký kết những văn kiện bán nước của nhóm Hùng hói, Tư Sang, Dũng X như sau:
“Trong thời gian chuyến thăm, Thủ tướng Lý Khắc Cường đã hội đàm với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng; hội kiến với Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Trong không khí chân thành, hữu nghị và hiểu biết lẫn nhau, hai bên đã đi sâu trao đổi ý kiến và đạt nhận thức chung rộng rãi về việc làm sâu sắc thêm hợp tác chiến lược toàn diện Việt-Trung trong tình hình mới, cũng như tình hình quốc tế, khu vực hiện nay và các vấn đề cùng quan tâm.
2. Hai bên đã nhìn lại và đánh giá cao sự phát triển quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, khẳng định sẽ tuân theo những nhận thức chung quan trọng mà Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được, phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc theo phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.
Hai bên nhất trí cho rằng trong tình hình kinh tế, chính trị quốc tế diễn biến phức tạp hiện nay, việc hai bên tăng cường trao đổi chiến lược, làm sâu sắc thêm hợp tác thực chất, xử lý thỏa đáng các vấn đề còn tồn tại, tăng cường điều phối và phối hợp trong các vấn đề quốc tế và khu vực, thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển lành mạnh, ổn định lâu dài phù hợp lợi ích căn bản của hai Đảng, hai nước và nhân dân hai nước, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực cũng như thế giới.
3. Hai bên đánh giá cao vai trò quan trọng không thể thay thế của tiếp xúc cấp cao giữa hai nước, nhất trí tiếp tục duy trì tiếp xúc và thăm viếng cấp cao, xuất phát từ tầm cao chiến lược nắm vững phương hướng phát triển quan hệ hai nước trong thời kỳ mới. Đồng thời, thúc đẩy trao đổi cấp cao qua nhiều hình thức như gặp gỡ bên lề các diễn đàn đa phương, sử dụng tốt đường dây nóng giữa Lãnh đạo cấp cao để đi sâu trao đổi các vấn đề trọng đại trong quan hệ song phương cũng như các vấn đề cùng quan tâm.
4. Hai bên nhất trí tiếp tục sử dụng tốt cơ chế của Ủy ban Chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc, thúc đẩy tổng thể hợp tác cùng có lợi trên các lĩnh vực; thực hiện tốt “Chương trình hành động triển khai Quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc”; sử dụng tốt các cơ chế giao lưu, hợp tác giữa các ngành Ngoại giao, Quốc phòng, Kinh tế Thương mại, Công an, An ninh, Báo chí hai nước và giữa Ban Đối ngoại Trung ương, Ban Tuyên giáo của hai Đảng; tổ chức tốt Phiên họp Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam-Trung Quốc, Hội nghị hợp tác phòng chống tội phạm, Phiên họp Ủy ban hợp tác kinh tế thương mại, Hội thảo lý luận giữa hai Đảng; làm tốt các công tác như Tham vấn Ngoại giao thường niên, Tham vấn An ninh-Quốc phòng, đào tạo mở rộng cho cán bộ Đảng và Nhà nước; sử dụng hiệu quả đường dây điện thoại trực tiếp giữa Bộ Quốc phòng, tăng cường định hướng đúng đắn báo chí và dư luận…, góp phần quan trọng cho việc tăng cường sự tin cậy giữa hai bên, duy trì phát triển ổn định quan hệ hai nước.
5. Hai bên cho rằng, Việt Nam và Trung Quốc là láng giềng và đối tác quan trọng của nhau, đều đang ở trong thời kỳ then chốt của công cuộc phát triển kinh tế-xã hội, xuất phát từ nhu cầu và lợi ích chung của hai nước, trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, hai bên nhất trí làm sâu sắc thêm hợp tác chiến lược toàn diện với trọng tâm là các lĩnh vực dưới đây:
a. Về hợp tác trên bộ
(i) Hai bên nhất trí nhanh chóng thực hiện “Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Việt-Trung giai đoạn 2012-2016” và Danh mục các dự án hợp tác trọng điểm; thành lập Nhóm công tác hợp tác về cơ sở hạ tầng giữa hai nước để quy hoạch và chỉ đạo thực hiện các dự án cụ thể; sớm đạt nhất trí về phương án thực hiện và huy động vốn đối với dự án đường bộ cao tốc Lạng Sơn-Hà Nội nhằm sớm khởi công xây dựng. Hai bên sẽ tích cực thúc đẩy dự án đường bộ cao tốc Móng Cái-Hạ Long, phía Trung Quốc ủng hộ các doanh nghiệp có thực lực của Trung Quốc tham gia dự án này theo nguyên tắc thị trường, đồng thời sẵn sàng hỗ trợ về huy động vốn trong khả năng. Các bộ, ngành hữu quan hai nước đẩy nhanh công tác, sớm khởi động nghiên cứu khả thi dự án đường sắt Lào Cai-Hà Nội-Hải Phòng. Hai bên nhất trí thực hiện tốt “Bản ghi nhớ về việc xây dựng các khu hợp tác kinh tế qua biên giới”, tích cực nghiên cứu đàm phán ký kết “Hiệp định thương mại biên giới Việt-Trung” (sửa đổi) nhằm phát huy vai trò tích cực thúc đẩy hợp tác và phồn vinh ở khu vực biên giới hai nước.
(ii) Hai bên đồng ý tăng cường điều phối chính sách kinh tế thương mại, thực hiện tốt “Bản ghi nhớ hợp tác song phương trong lĩnh vực thương mại hàng nông sản” và “Hiệp định về việc mở Cơ quan xúc tiến Thương mại nước này tại nước kia,” để thúc đẩy cân bằng thương mại song phương trên cơ sở bảo đảm thương mại tăng trưởng ổn định, phấn đấu hoàn thành trước thời hạn mục tiêu đến năm 2015 kim ngạch thương mại hai chiều đạt 60 tỷ USD. Phía Trung Quốc khuyến khích doanh nghiệp Trung Quốc mở rộng nhập khẩu hàng hóa có tính cạnh tranh của Việt Nam, ủng hộ doanh nghiệp Trung Quốc vào Việt Nam đầu tư kinh doanh, đồng thời sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp Việt Nam sang Trung Quốc mở rộng thị trường. Phía Việt Nam sẽ tạo thuận lợi, hỗ trợ sớm hoàn thành Khu công nghiệp Long Giang và Khu công nghiệp An Dương. Hai bên sẽ đẩy nhanh thi công, thúc đẩy sớm hoàn thành dự án Cung Hữu nghị Việt-Trung.
(iii) Hai bên nhất trí làm sâu sắc thêm giao lưu hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, khoa học công nghệ, giáo dục, văn hóa, thể thao, du lịch, y tế…
(iv) Hai bên nhất trí tiếp tục phát huy vai trò của Ủy ban liên hợp biên giới trên đất liền giữa hai nước, thực hiện nghiêm túc Kế hoạch công tác hàng năm; tiến hành Hội nghị lần thứ nhất Ủy ban hợp tác quản lý cửa khẩu giữa hai nước, thúc đẩy công tác mở cửa, nâng cấp một số cặp cửa khẩu biên giới trên bộ, sớm chính thức mở cặp cửa khẩu quốc gia Hoành Mô-Động Trung; thúc đẩy đàm phán về “Hiệp định hợp tác bảo vệ và khai thác nguồn tài nguyên du lịch khu vực thác Bản Giốc” sớm đạt được tiến triển thực chất, sớm khởi động vòng đàm phán mới và đạt nhất trí về “Hiệp định tàu thuyền tự do đi lại tại khu vực cửa sông Bắc Luân”, sớm hoàn thành xây dựng các cầu qua biên giới như cầu đường bộ Bắc Luân 2, cầu đường bộ 2 Tà Lùng-Thủy Khẩu, tạo nền tảng cho sự ổn định và phát triển của khu vực biên giới hai nước.
Hai bên nhất trí tăng cường hơn nữa hợp tác giữa các địa phương, nhất là giữa các tỉnh, khu tự trị biên giới hai nước; phát huy vai trò của cơ chế hợp tác liên quan giữa địa phương hai nước.
b. Về hợp tác tiền tệ
Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong lĩnh vực tài chính, tích cực tạo điều kiện và khuyến khích các tổ chức tài chính hai bên hỗ trợ dịch vụ tài chính cho các dự án hợp tác song phương về thương mại và đầu tư. Trên cơ sở Hiệp định thanh toán bằng đồng bản tệ song phương trong thương mại biên giới ký giữa ngân hàng trung ương hai nước năm 2003, tiếp tục nghiên cứu việc mở rộng phạm vi thanh toán bằng đồng bản tệ, thúc đẩy trao đổi thương mại và đầu tư hai bên. Hai bên quyết định thành lập Nhóm công tác về hợp tác tiền tệ giữa hai nước, để nâng cao khả năng phòng ngừa rủi ro tài chính tiền tệ của hai bên, duy trì ổn định và phát triển kinh tế hai nước và khu vực. Tăng cường điều phối và phối hợp đa phương, cùng nhau thúc đẩy hợp tác tài chính tiền tệ khu vực Đông Á.
c. Về hợp tác trên biển
Hai bên nhất trí tuân thủ nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, nghiêm túc thực hiện “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam-Trung Quốc,” sử dụng tốt cơ chế đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc, kiên trì thông qua hiệp thương và đàm phán hữu nghị, tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được, tích cực nghiên cứu giải pháp mang tính quá độ không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của mỗi bên bao gồm tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển. Theo tinh thần đó, hai bên đồng ý thành lập Nhóm công tác bàn bạc về hợp tác cùng phát triển trên biển trong khuôn khổ Đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới lãnh thổ Việt Nam-Trung Quốc.
Hai bên nhất trí tăng cường chỉ đạo đối với các cơ chế đàm phán và tham vấn hiện có, gia tăng cường độ làm việc của Nhóm công tác vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và Nhóm công tác cấp chuyên viên về hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển. Trên nguyên tắc dễ trước khó sau, tuần tự tiệm tiến, vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực thúc đẩy hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này và trong năm nay khởi động khảo sát chung ở khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ để thực hiện nhiệm vụ đàm phán của Nhóm công tác về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ. Nhanh chóng thực hiện các Dự án hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm trên biển như Hợp tác nghiên cứu quản lý môi trường biển và hải đảo vùng Vịnh Bắc Bộ, Nghiên cứu so sánh trầm tích thời kỳ Holocenne khu vực châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Trường Giang…, tiếp tục thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm cứu nạn trên biển, phòng chống thiên tai và kết nối giao thông trên biển.
Hai bên nhất trí kiểm soát tốt những bất đồng trên biển, không có hành động làm phức tạp, mở rộng tranh chấp, sử dụng tốt đường dây nóng quản lý, kiểm soát tranh chấp trên biển giữa Bộ Ngoại giao hai nước, đường dây nóng về các vụ việc phát sinh đột xuất của hoạt động nghề cá trên biển giữa Bộ Nông nghiệp hai nước, xử lý kịp thời, thỏa đáng các vấn đề nảy sinh, đồng thời tiếp tục tích cực trao đổi và tìm kiếm các biện pháp có hiệu quả để kiểm soát tranh chấp, duy trì đại cục quan hệ Việt-Trung và hòa bình, ổn định trên Biển Đông.
6. Hai bên nhất trí tổ chức tốt các hoạt động như Liên hoan Thanh niên Việt-Trung lần thứ hai, Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt-Trung, Liên hoan Nhân dân Việt-Trung…, nhằm bồi dưỡng ngày càng nhiều thế hệ tiếp nối sự nghiệp hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc. Hai bên nhất trí thành lập Viện Khổng Tử tại Việt Nam và đẩy nhanh việc thành lập Trung tâm văn hóa của nước này ở nước kia, thiết thực tăng cường tuyên truyền về quan hệ hữu nghị Việt-Trung, làm sâu sắc sự hiểu biết và hữu nghị giữa người dân hai nước.
7. Phía Việt Nam khẳng định kiên trì thực hiện chính sách một nước Trung Quốc, ủng hộ quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan phát triển hòa bình và sự nghiệp lớn thống nhất Trung Quốc, kiên quyết phản đối hành động chia rẽ “Đài Loan độc lập” dưới mọi hình thức. Việt Nam không phát triển bất cứ quan hệ chính thức nào với Đài Loan. Phía Trung Quốc hoan nghênh lập trường trên của Việt Nam.
8. Hai bên nhất trí tăng cường điều phối và phối hợp tại các diễn đàn đa phương như Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại Thế giới, Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, diễn đàn hợp tác Á-Âu, Diễn đàn khu vực ASEAN, Hội nghị Cấp cao ASEAN-Trung Quốc, Hội nghị Cấp cao ASEAN+3 với Trung-Nhật-Hàn, Hội nghị Cấp cao Đông Á…, cùng nhau nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của thế giới.
Hai bên đánh giá cao những thành tựu to lớn đạt được trong phát triển quan hệ ASEAN-Trung Quốc, nhất trí lấy dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược ASEAN-Trung Quốc làm cơ hội tăng cường hơn nữa tin cậy chiến lược. Phía Việt Nam hoan nghênh đề xuất của Trung Quốc về việc ký kết “Điều ước hợp tác láng giềng hữu nghị giữa các nước ASEAN và Trung Quốc”, nâng cấp Khu mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc, thành lập Ngân hàng đầu tư cơ sở hạ tầng châu Á. Việc ASEAN và Trung Quốc triển khai hợp tác rộng rãi có vai trò hết sức quan trọng đối với thúc đẩy hòa bình, ổn định, tôn trọng và tin cậy lẫn nhau tại khu vực Đông Nam Á.
Hai bên nhất trí thực hiện đầy đủ, hiệu quả “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), tăng cường tin cậy, thúc đẩy hợp tác, cùng nhau duy trì hòa bình, ổn định ở Biển Đông, theo tinh thần và nguyên tắc của “Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC), trên cơ sở đồng thuận, nỗ lực hướng tới thông qua “Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông” (COC).
9. Trong thời gian chuyến thăm, hai bên đã ký “Hiệp định về việc mở Cơ quan xúc tiến Thương mại nước này tại nước kia”, “Bản ghi nhớ về xây dựng khu hợp tác kinh tế qua biên giới”, “Bản ghi nhớ về việc thành lập Nhóm Công tác hỗn hợp hỗ trợ các dự án do doanh nghiệp Trung Quốc thực hiện tại Việt Nam”, “Hiệp định về việc xây dựng cầu đường bộ 2 Tà Lùng-Thủy Khẩu” và Nghị định thư kèm theo, “Dự án hợp tác nghiên cứu quản lý môi trường biển và hải đảo vùng Vịnh Bắc Bộ”, “Dự án nghiên cứu so sánh trầm tích thời kỳ Holocenne khu vực châu thổ sông Hồng và châu thổ sông Trường Giang”, “Thỏa thuận về việc thành lập Viện Khổng Tử tại Trường Đại học Hà Nội” và một số văn kiện hợp tác kinh tế.
10. Hai bên bày tỏ hài lòng về kết quả chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường, nhất trí cho rằng chuyến thăm lần này có ý nghĩa quan trọng đối với việc thúc đẩy quan hệ hai nước phát triển và hợp tác thiết thực trên các lĩnh vực./.”.
      Thứ hai, Năm 2009 Hùng hói đi thăm Liễu Châu cũng đã được báo chí cộng sản đưa tin như sau:

Hùng hói và lãnh đạo TP. Quế Lâm- Trung Cộng.
Hùng hói và lãnh đạo TP. Quế Lâm- Trung Cộng.
“Sáng 22/10, tiếp tục chuyến thăm Quảng Tây – Trung Quốc, Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Sinh Hùng cùng Đoàn cấp cao Chính phủ Việt Nam đã tới dự Lễ khai mạc Triển lãm Doanh nghiệp vừa và nhỏ TP Ngọc Lâm lần thứ 6 và tới thăm Nhà lưu niệm Chủ tịch Hồ Chí Minh tại TP. Liễu Châu… Cảm ơn sự đón tiếp chân tình và trọng thị của lãnh đạo và nhân dân TP. Liễu Châu, Phó Thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng cho rằng, Trung Quốc và Việt Nam nói chung, TP. Liễu Châu với Việt Nam nói riêng cần tiếp tục vun đắp tình đoàn kết, hợp tác, hữu nghị gắn bó lâu dài. Với tiềm lực của mình, Liễu Châu sẽ tiếp tục vươn lên mạnh mẽ, con đường mở rộng hợp tác đầu tư thương mại của Liễu Châu với các nước ASEAN trong đó có Việt Nam chắc chắn phát triển hơn nữa.”.
Qua những phát ngôn của Hùng hói cho thấy, đây là một tên nố tài bán nước có thứ hạng cao trong đội ngũ cộng sản Việt Nam chuyên nghề bán nước, hại dân. Có thể xem thêm clips tại đây: http://www.youtube.com/watch?v=lGMhOKbyabg

Hùng hói chầu quan Thầy Trung Cộng tại Quế Lâm
Hùng hói chầu quan Thầy Trung Cộng tại Quế Lâm

Thứ ba, Cũng giống như Tòng Thị Phóng mô tả Trung cộng là đồng chí và anh em của Việt Nam, Phó Chủ tịch Quốc hội Tòng Thị Phóng ngỏ lời tri ân sự hỗ trợ của Trung cộng đối với Việt Nam và nói rằng đảng, nhà nước, và nhân dân Việt Nam luôn xem mối quan hệ với Trung cộng là một ưu tiên trong các mối bang giao đối ngoại của Việt Nam. Hay Nguyễn Thiện Nhân :” Các hoạt động tri ân Trung Quốc mà hội này sẽ tổ chức là mời các chuyên gia, các cựu chiến binh Trung Quốc sang thăm Việt Nam… Một chương trình hành động quan trọng khác của Hội hữu nghị Việt Nam-Trung Quốc trong thời gian tới là ‘nghiên cứu xây dựng các hình thức tuyên truyền về tình hữu nghị Việt-Trung”. (Links: http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2012/07/120711_vietchina_friendship_society.shtml ) thì Hùng hói cũng không kém phần “long trọng” trong việc bán nước hại dân. Khi phát biểu tại Ban Tuyên Giáo Trung Ương ngày 14/3/2013 thì Hùng hói đã tuyên bố:” Tình cảm mà đảng mà nhân dân Trung Quốc giành cho đảng cộng sản Việt Nam cần phải được báo chí cách mạng nâng tầm lên mức cao hơn. Chúng phải thể hiện sự biết ơn những ân tình của bạn mà chủ tich Hồ Chí Minh đã dày công xây dựng…”

    Tất cả những bằng chứng nêu trên cho thấy Hùng hói là một tên bán nước hại dân và cam tâm làm nô tài cho giặc thật sự. Đó là những con quỷ đó mà chúng ta cần phải đồng lòng để tiêu diệt. Cũng vì bán nước hại dân mà Hùng hói và đồng bọn có những khối tài sản khổng lồ:

hunghoi-giayxacnhan1hunghoi-giayxacnhan2

III.Kết luận:

Tội ác của Hùng hói là một trong những tên tham nhũng và bán nước giống như biết bao tên chóp bu cộng sản khác. 
Chúng ta cần phải lên án mạnh mẽ để người dân biết hết những sự thật này, từ đó cùng đứng lên để lật đổ chế độ cộng sản. Không còn thời gian cho chúng ta tiếp tục chần trừ và làm ngơ trước những hiểm họa đang đến rất gần với dân tộc Việt Nam do bè lũ cộng sản bắt đầu từ Hồ Chí Minh cho đến Hùng, Dũng, Sang Trọng gây ra. Hãy tiến lên và chúng ta sẽ có được chiến thắng. Dân tộc đang mong chờ chúng ta cùng đứng lên vì một mùa xuân Việt Nam.
Đặng Chí Hùng 18/11/2013