Friday, June 24, 2016

Đả đảo CSVN bán nước!!!

 - Khi Tổng thống Hoa Kỳ Obama sang Việt Nam, tôi viết bài chào: “Chống Mỹ cứu nước!”. Nay ông ta đã rời VN, chẳng lẽ tôi không thể viết: “Đả đảo Cộng sản Việt Nam!”? Tôi đả đảo nó vì suốt 80 mươi năm qua, nó chỉ đem đến cho Việt Nam về đời sống là nghèo đói, bất hạnh. Về xã hội là sự vô luân là gian trá, lừa bịp, phản trắc. Về con người là phi nhân bất nghĩa và tội ác. Với gia đình là không cha không mẹ, không tình nghĩa. Với tổ quốc là phản nghịch, là buôn dân bán nước!

Khi Đệ Nhị Thế Chiến vừa tàn, hội nghị San Francisco 1951 mở ra và ở đó một bản Hòa Ước giữa người thắng kẻ bại đã được đúc kết, công bố và thi hành. Trong Điều 2, đoạn 7 của Hòa ước này đã minh thị về trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam bị Nhật chiếm giữ như sau: “Nhật Bản khước từ mọi chủ quyền và đòi hỏi đối với tất cả các lãnh thổ mà họ chiếm bằng vũ lực trong đệ nhị thế chiến, trong số đó có các quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) và quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands)”.
  Trước đó, khi đệ trình bản tu chính vào ngày 5-9-1951, ngoại trưởng Nga, Andrei Cromyko đã tính vươn tay dành 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam cho Trung cộng, là một tập đoàn CS vừa có chiến thắng tại Trung Hoa lục địa (1949). Tuy nhiên, vào ngày 7/9/1951, trong Hội nghị San Francisco với sự tham dự của các phái đoàn đại diện cho 51 quốc gia, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng VN, ông Trần Văn Hữu, đã long trọng tuyên bố trước hội nghị như sau: “Chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của chúng tôi trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”...“Chúng tôi cũng sẽ trình bày ngay đây những quan điểm mà chúng tôi yêu cầu Hội nghị ghi nhận... Và để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này, chúng tôi xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa”. Lời công bố này đã được bỏ phiếu chấp thuận trong hội nghị với tỷ lệ 48/51, trong đó có các cường quốc hàng đầu như Mỹ, Pháp, Anh. Hòa ước này đã có hiệu lực từ 28/4 năm 1952.

Tưởng cũng nên nhắc lại vào ngày 16-3-1974, cựu thủ Tướng Trần văn Hữu trong một cuộc phỏng vấn tại Paris đã nói: “...Chủ quyền Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa đã được công khai tuyên bố nơi Hội nghị Hòa bình với Nhật, tại San Francisco vào năm 1951. Lúc ấy là lần đầu tiên mà Việt Nam vào hàng 50 cường quốc có quyền định đoạt vấn đề quốc tế. Lá cờ quốc gia, nét son nền vàng phất phới trước Hội nghị... Việt Nam có mặt ở San Francisco là VIỆT NAM THỐNG NHỨT, thống nhứt đã hai năm rồi. Và ai cũng biết, ngày 8-3-1949 là ngày chánh phủ Pháp công khai nhìn nhận nền độc lập của Việt Nam. Việt Nam hoàn toàn thống nhứt từ đó... ”

Như thế, vào thời điểm 1951, Việt Nam đã là một quốc gia Độc Lập, có chủ quyền. Lãnh thổ chạy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu, dặt dưới quyền lãnh đạo của chính phủ Bảo Đại. Trong khi đó, lợi dụng tinh thần kháng pháp của quân dân Việt Nam, CS trương cờ cướp lấy chính quyền tại Hà Nội vào ngày 2-9-1945. Nhưng chẳng bao lâu sau, tập đoàn CS do Trung cộng đỡ đầu đã bị đánh bật ra khỏi Hà Nội. Cuộc sống tăm tối. Giống như thổ phỉ, ngày ẩn trốn, đêm đêm đi cướp của giết người. Và cái chết của bà Nguyễn thị Năm, người đã bỏ ra hàng trăm lượng vàng giúp kháng chiến đã là cái án treo vào cổ những cái tên Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Đặng Xuân Khu, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp... đời đời không thể tẩy rửa được.

Tuy nhiên, cuộc chiến thắng của Mao Trạch Đông ở lục địa Trung Hoa (1949) đã dần dần làm thay đổi bộ mặt của tập đoàn cộng sản tại Việt Nam. Trước hết, với sức người sức của, dưới sự điều binh khiển tướng trực tiếp của những viên tướng Tàu là Lã Qúy Ba, Trần Canh... Trung cộng đã dần dần tạo ra và giúp tập đoàn CS Hồ Chí Minh có chỗ đứng, mà điểm vang là trận Điện Biên Phủ. Từ trận chiến này, TC đã gây ra hoang mang và làm đổ vở tinh thần cũng như sức chiến đấu của quân đội Pháp tại Đông Dương. Nó là nguyên nhân chính đem lại tai họa cho Việt Nam qua hội nghị Geneve. Là nơi, với sự góp sức của Tàu và Liên Sô, Việt Nam đã bị chia ra làm 2. Miền bắc, từ vĩ tuyến 17 trở ra do tập đoàn cộng sản Hồ chí Minh chiếm đóng. Phía nam vĩ tuyến 17 thuộc về quân đội và nhân dân Việt Nam. Kết quả này cho thấy, Hồ Chí Minh và tập đoàn cộng sản đã cậy nhờ vào Tàu cộng mà đạt thành ước nguyện của Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc xưa kia.

Sau khi giúp cho tập đoàn Hồ Chí Minh có chỗ chống gậy, TC không quên đòi lấy quyền lợi cho mình. Việc đầu tiên họ ra một thông báo, trong đó quy định điều mà họ gọi là lãnh địa và lãnh hải thuộc nước CHNDTH, một điều mà họ đã không thể thực hiện được tại Hội nghị San Francisco 1951. Bản tuyên bố của Chu Ân Lai đề ngày 4 tháng 9-1958, gồm 4 điều khoản. Điều khoản số 1 đã viết như sau: “Tuyên Bố của Chính Phủ Nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc về Lãnh Hải (1) Bề rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều khoản này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài Loan... và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc...”

Theo thông báo này, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nơi mà hội nghị quốc tế San Francisco đã khẳng định là của Việt Nam đã bị TC quy vào vòng cương tỏa của họ với cái tên khác là Nam Sa và Tây Sa. Việc cương tỏa này hoàn toàn không có giá trị với Việt Nam trên phương diện pháp lý. Tuy nhiên, trái ngược với thái độ của miền nam Việt Nam, tập đoàn CSBV dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh tự biết, đây chẳng qua chỉ là việc phải trả nợ chiến phí mà TC đã giúp cho Lê Chiêu Thống kiếm được chỗ dung thân. Theo đó, nhân cơ hội TC ra thông báo về các quần đảo tiếp cận, Hồ Chí Minh qua Phạm Văn Đồng đã cống nạp hai quần đảo HS, TS đang nằm trong công quyền của miền Nam Việt Nam cho TC. Việc làm này phải được coi là một công trạng lớn nhất của tập đoàn CS Hồ Chí Minh sau khi chúng tìm được chỗ tựa: Đồng viết:

“Thủ Tướng Nước Việt-Nam Dân-Chủ Cộng-Hòa,

Thưa Đồng chí Tổng lý... Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà ghi nhận và tán thành bản tuyên bố, ngày 4 tháng 9 năm 1958, của Chính phủ nước Cộng Hoà Nhân dân Trung-hoa... Chính phủ nước Việt-nam Dân Chủ Cộng Hoà tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung-quốc... Ngày 14 tháng 9 năm 1958.

Thật ra, bản công hàm của Phạm Văn Đồng đã không xuất hiện lẻ loi. Trái lại, nó đã được sửa soạn rất kỹ từ trước đó hai năm. Vào tháng 6 năm 1956, thứ trưởng Ngoại giao Việt cộng là Ung Văn Khiêm đã nói với Li Zhimin, tham tán sứ quán Trung quốc tại Hà Nội là: “theo dữ liệu của Việt Nam thì đảo Tây Sa (tức Paracels, Hoàng Sa) và đảo Nansha (tức Spratleys, Trường Sa) là một phần thuộc Trung quốc theo lịch sử”. Sau Y, vào ngày 3-12-1992, Nguyễn Mạnh Cầm trong vai bộ trưởng ngoại giao tại Hà Nội xác minh: “các nhà lãnh đạo của ta lúc trước xác nhận về Hoàng Sa và Trường Sa như vậy là do theo Hiệp định Genève năm 1954 về Đông Dương thì tất cả lãnh thổ từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam là thuộc về chính quyền miền Nam, kể cả hai quần đảo này. Trong tinh thần đấy và do tính cấp bách, quan điểm lãnh đạo của ta ủng hộ Trung quốc công bố chủ quyền của họ trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là cần thiết. Vì nó phục vụ cho cuộc chiến bảo vệ tổ quốc!”. Không biết Y muốn nói đến bảo vệ tổ quốc nào, chắc là Tổ quốc Trung quốc? 
   Thêm vào câu chuyện bán nước này, Hoàng Tùng, ủy viên trung ương, cũng xác nhận: "Vì ta bận đánh Mỹ, không có thời gian và chưa đủ khả năng để giải phóng Hoàng Sa nên nhờ bạn Trung Quốc giải phóng. Sau này mình thống nhất đất nước rồi phía bạn sẽ trả cho mình." (RFA).
  Riêng Lê Đức Thọ, ủy viên BCT, trưởng ban tổ chức TƯ đảng thì mạnh dạn hơn:“Hãy an tâm, Trường Sa, Hoàng Sa trong tay Trung quốc còn hơn là trong tay ngụy quyền miền nam”.

Dĩ nhiên, chuyện nhượng địa cho TC chưa dừng lại ở đó. Vào năm 1990 một phần trong vịnh bắc bộ gồm bãi biển Tục Lãm, rồi núi Lão Sơn, Nam Quan, Bản Giốc cũng đã lìa đàn chim Việt. Và còn biết bao nhiêu rừng đầu nguồn, đất đai thuê bao, sang nhượng mà CSVN không còn được phép lui tới nữa. Đó là chưa kể đến những cơ sở kinh doanh nhỏ, tràn sang mua nhà chiếm đất dưới hình thức tư nhân. Đã thế, hầu như tất cả các ngành liên quan đến hệ thống nền tảng như đường sá cầu cống, điện nước đều nằm trong tay Trung cộng xây dựng, quản lý!

a. Việt Nam còn lại gì?

Ngày nay, mỗi khi nhắc đến Hoàng Sa và Trường Sa, Nam Quan, Bản Giốc... người ta luôn nhắc đến hậu qủa của cuộc dàn xếp giữa kẻ đi xin ăn, và kẻ cấp phát lương thực cho kẻ nghèo khó trong thế giới cộng sản là Trung cộng và CS Bắc Việt. Đó là cái kết qủa mà không một ai, không một nước nào trong cộng đồng thế giới muốn chen vào để giải quyết những bất đồng giữa 2 tập đoàn cộng sản này. Bởi vì, đứng về phương diện ngoại giao, không ai muốn đứng về, hoặc ngả theo những kẻ biển lận, muốn dùng mánh khóe để lừa đảo. Và cũng chẳng ai chống lưng cho kẻ muốn dùng cái xác lớn để đi chiếm hữu. Đó là lý do, dù đã mất HS, TS và biển đảo Bắc bộ vào tay TC, tập đoàn CSVN vẫn không thể thoát ra, tệ hơn, còn phải cúi đầu, bám theo bước chân TC ngày một chặt chẽ hơn! Đó là một bất hạnh lớn, nếu không muốn nói là một sỉ nhục cho đất nước và dân tộc Việt Nam khi bọn “Lê Chiêu Thống” gặp thời.

b. Hậu qủa của việc “cỏng rắn cắn gà nhà”.

Khi đọc bản văn này, ai cũng biết là Hồ Chí Minh đã dùng tay Phạm Văn Đồng để dâng hiến biển đảo của Việt Nam cho TC. Riêng phần lý do thì cho đến nay không ai xác định được đâu là điểm chính. Nhiều người cho là vào thời điểm đó, tập đoàn CS Bắc Việt chỉ nghĩ đến vấn nạn của chiến phí trong chiến tranh, nên đã nhân cơ hội có bản thông báo của TC, họ đã hùa theo để, một phần là trả nợ trên giấy. Phần khác là cậy nhờ TC tiếp tục trợ giúp vũ khí đạn dược, cũng như các chuyên viên cho CS Bắc Việt trong cuộc xâm lăng miền nam Việt Nam. Khi quyết định, không phải là họ không biết 2 quần đảo này trực thuộc chính phủ Việt Nam Cộng Hòa. Trái lại biết rất rõ. Theo đó, họ còn muốn đưa cả TC bước vào cuộc chiến với Nam Việt Nam để chia chác thành qủa cho nhau sau này. Phía CSVN là thế, riêng với HCM có lẽ còn phải kể đến cái lý lịch người Hẹ của Y để Y mạnh dạn chuyển những vùng đất này cho TC. Kết quả, VN đã mất Hoàng Sa và Trường Sa vì cái kế bán đất nhà người của HCM.

c. Làm sao có thể đánh dấu hay đòi lại những gì đã mất?

Người ta tin rằng, hành vi tự ý công bố hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong bản thông bào của Chu Ân Lai là bất hợp pháp và TC không bao giờ có thể thủ đắc hai quần đảo này. Tuy nhiên, bản văn trả lời đầy bợ đỡ và gian trá của Phạm Văn Đồng đã giúp cho Trung cộng có lợi thế trong việc ra quân chiếm giữ lấy hai quần đảo này. Từ đó, nguy cơ chiếm cứ lâu dài và có thể trở thành vĩnh viễn sẽ xảy ra. Bởi lẽ chẳng ai có khả năng đầy chúng ra khỏi vị trí đang chiếm đóng, ngoại trừ chính người Việt Nam sau một cuộc chiến tranh. Và TC là kẻ chiến bại toàn diện.

Đứng trước nguy cơ bị TC chiếm hữu một cách vĩnh viễn và Việt Nam mất luôn cơ hội để đòi lại, Việt Nam phải làm gì? Trước hết, ngoài việc phải đưa Trung cộng ra trước tòa án Quốc Tế, nhà nước cộng sản tại Hà Nội buộc phải tự làm công việc sau: Bằng một công hàm đồng cấp, với sự chuẩn thuận của QH, nhà nước CHXHCNVN phải công khai tuyên bố hủy bỏ bản Công Hàm của Phạm Văn Đồng, coi đó là một hư thư vô gía trị vì nó không đi qua việc duyệt trình của Quốc Hội. Bản tuyên bố này cũng buộc phải gởi đến người đồng cấp của TC.
  Đồng thời thông báo rộng rãi trên truyền thông, cũng như cơ cấu thẩm quyền của Liên Hiệp Quốc. Trong đó có thể phải viện dẫn đến lý do:
   Vào thời điểm sau 20-7-1954, hai quần đảo này trực thuộc quyền quan lý của Việt Nam Cộng Hoà theo hiệp định Geneve 54 về VN và mang tên Hoàng Sa và Trường Sa. Theo đó, nhà nước CHXHCN Việt Nam không có tư cách pháp nhân cũng như pháp lý để công nhận cái không có, hay không thuộc về minh trực thuộc về quốc gia đệ tam.

Nếu có một văn bản công khai đồng cấp như thế trên trường Quốc Tế, câu chuyện của Hoàng Sa, Trường Sa sẽ có nhiều lý do để thay đổi. Từ đó, có khả năng đặt TC vào vị trí chiếm hữu bất hợp pháp. Đây là một công việc mang tính cách tạo ra thế diên trì của chủ quyền mà Việt Nam phải bảo vệ. Hơn thế, nhờ phương cách này, Việt Nam vẫn luôn luôn có thế chủ động trong việc đòi hỏi TC phải trao trả hai quần đảo này lại cho VN (bất kể thời gian). Có thể nói, đây là phương cách duy nhất để nhà cầm quyền Hà Nội chứng minh rằng cái Công Hàm của PVĐ không có gía trị. Ngoài ra không có một phương cách nào khác, nó càng không thuộc về những cái loa xó bếp lên tiếng. Nhưng ai, viên TT nào của CSVN dám ký bản Công Hàm này? Có lẽ là không ai?

Nhìn lại, lịch sử đã cho chúng ta thấy rằng: Đất nước và Dân tộc là một khối kiên vững trường tồn không bao giờ chết và cũng không bao giờ hết. Phần các triều đại, các thể chế thì đều phải theo qua đi. Qua đi theo ngày tháng dài hay ngắn mà chúng nó đã phục vụ hay phản bội lại đất nước và dân tộc này. Đây không phải là một định lý hay một định đề nguyên tắc nào cả, nhưng nó là luật biến hóa của thời gian và được tác động bởi con người.

Cách riêng, lịch sử của dân tộc Việt Nam hơn 4000 năm qua luôn luôn chứng minh một điều rõ nét là: Tất cả những vua quan, mũ áo đi cầu cứu Trung Hoa để về tranh danh đoạt quyền lợi tại Việt Nam đều là những tên phản quốc, và cái kết quả cuối cùng của chúng, một là bị bêu đầu hay trở thành những kẻ cô hồn nơi đất ngoại. Xa kia, là Kiều Công Tiễn. Kế đến là Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống. Nay, Hồ Chí Minh và tập đoàn bán nước chắc chắn cũng không có ngoại lệ. Có khác là chúng đã nhờ Tàu mà đày đọa Dân Tộc để hưởng được đôi phần bổng lộc trong một khoảng thời gian nào đó mà thôi.

Khi trực diện nhìn lại những hình ảnh này, mọi người đều thấy:
 Cái tai họa lịch sử với dân tộc Việt Nam hôm nay không phải là cái họa mất nước, mất biển đảo vào tay Trung cộng, nhưng chính là việc tập đoàn cộng sản đã đưa Trung cộng vào xẻ đất, chia áo của Việt Nam.
   Theo đó, muốn trừ cái họa này cho dân tộc, xem ra chúng ta cũng không có một cách chọn lựa nào khả dĩ khác và tốt hơn, ngoài việc nhìn lại và học lại bài học của Ngô Quyền, của Hưng Đạo Vương trên sông Bạch Đằng khi xưa. Đứng dậy mà đi.

Điều ấy có nghĩa, nếu chúng ta mãi ngủ vùi trong cuộc tuyên truyền xảo trá của CS, hoặc giả, nghe theo lời của những hiện tượng vô văn hóa, vô tổ quốc, vô gia đình như tên Vũ Minh Giang, Hiệu trưởng Đại học Quốc Gia Hà nội, tuyên bố "Đào mồ, cuốc mả tổ tiên của tôi thì được. Chớ đập bỏ tượng Lenin là vô văn hóa"thì ngày Việt Nam mất tên, thành một chi tộc của tập đoàn Trung cộng cũng chẳng còn bao xa!

Để kết. Bạn nghĩ gì về tập thể cộng sản vô gia đình, vô tổ quốc này? Khi theo Lê Chiêu Thống, Trần Ích Tắc bán nước cầu vinh thì Hồ Chí Minh và tập đoàn CS rêu rao lên những khẩu hiệu lừa đảo từ bà già đến lũ trẻ là “giải phóng” là “Chống Mỹ cứu nước”. Nay đường đi không đến, “giải phóng” không thấy, nhưng có hơn 3 triệu nhân mạng bị chết vì “kháng chiến”. Lại thấy cả nước điêu linh vì tai họa cộng sản và rồi sẽ điêu tàn vì cái họa ngàn đời từ phương bắc do chúng cỏng vào. Hỏi xem, liệu chúng có đáng bị đả đảo và bị lên án hay không?

Có hay không? Câu trả lời của bạn hôm nay chính là hướng đi của Việt Nam trong ngày mai đấy. Nghĩa là, Tổ quốc Việt Nam của chúng ta sẽ Trường Tồn trong Tự Do, trong Độc Lập hay sẽ bị đặt vào trong vòng nô lệ của Tàu cộng là tùy thuộc vào câu trả lời của chúng ta hôm nay.