Sunday, May 11, 2014

Sơn Hà nguy biến

Ảnh minh hoạ.Ảnh minh hoạ. 

“Toàn Dân nghe chăng, Sơn Hà Nguy Biến”(HNDH).

   Khi tiếng súng lặng im sau ngày, 30-4-1975, cuộc chiến ý thức hệ Quốc – Cộng, dù chưa rõ nghĩa trắng đen, thắng, bại, nhưng tự nó bị coi như là chuyện dĩ vãng. Nhiều người ở cả hai miền bắc nam biểu lộ sự vui mừng. Họ mừng thật. Mừng bằng con tim vì đã hết chiến tranh. Người mừng  vì phía ta thắng, phía ta nắm được công quyền. Nhưng lại có nhiều người từ bắc đến nam khóc thảm, Khóc vì ta mất bầu trời Tự Do, ta mất cả một hy vọng mong manh trong chiến tranh là sẽ được nhìn thấy Tự Do, Và khóc thảm vì biết người dân Việt Nam từ đây sẽ bị trùm lên đầu, lên cổ cái ách thống trị của gian dối. 

Tuy nhiên, cũng có nhiều người dửng dưng, chẳng buồn chẳng vui. Họ ngơ ngác nhìn đời, nhìn người vì chưa biết chuyện ngày mai sẽ ra rao. Họ hy vọng hết chiến tranh, con cái được trờ về nhà. Phần họ có được những ngày thong thả, thảnh thơi để làm ăn sinh sống thay nỗi lo canh cánh bên lòng.
Kết qủa xem ra lại là những tang thưong trả lời cho một cuộc hoài vọng sau chiến tranh. 
ởi vì, người đi nay xương đã tàn, thịt đã rửa trên rừng hoang, trong góc núi nhưng vẫn chưa được nhà nưóc chiếu cố báo tin. Trong khi đó, người từng ăn cơm, hưởng bổng lộc ở miền nam, bỗng một chiều đá bát, vác cở ra đường gọi là đi mừng ngày “giải phóng”, chỉ năm bẩy hôm sau là trắng mắt. Chạy trốn chết từ các vùng gọi là thủy lợi, kinh tế mới, rồi cạo đầu cho vợ con,  chạy ào ra biển, nhập đoàn người thà chết trên biển khơi để đi tìm chữ Tự Do! Riêng những người đã từng khóc than thì có thêm cơ hội cho dòng nước không vơi cạn vì những cuộc chia lìa khi chồng, con bị lùa vào chốn nhà tù với ngôn từ hoang tưởng ” học tập cải tạo”.  Học tập gì, cải tạo gì? Học tập những thói gian ác của lớp ngưòi mới đến ư? Cải bỏ cái chính danh, chính nghĩa, công lý , sự thật của mình đi để học theo cái gan dối và bạo tàn, bán nước của tập đoàn cộng sản HCM chăng?  Quả là ta đã có một bức tranh nham nhở sau ngày 30-4-1975. Theo đó, ngày 30-4- 1975, không thể  được coi là ngày vui của người dân Việt Nam. Trái lại, đó là ngày mất Công Lý, mất Tự Do. Đó là ngày khởi đầu cho một cuộc thống khổ đau thương tận cùng cho dân tộc. Bởi vì:
Về niềm tin: Cộng sản đã phá hủy hoàn toàn niềm tin trong lòng của mọi ngưòi. Cuộc sống ở nơi đó chỉ còn lại những rình rập, ích kỷ và đố kỵ.
Về cuộc sống. Ở đó chỉ còn là những cuộc đảo điên tranh dành. Tranh dành từ ngôn từ thời đại quy hoạch và chạy theo quy hoạch, để tạo nên một làn sóng dân mất nhà. mất gia sản, trở thành dân oan lang thang trên cả nước. Rồi ngược chiều với dân là lớp cán no cơm rửng mỡ, ác độc thành những thái thú  cho bành trướng Trung cộng.

Về luân thường đạo lý. Bắt đầu bằng học, sau đó là tập theo theo nội dung tư tưởng Hồ chí Minh. Kết qủa, văn hóa nhân bản của dân tộc, luân lý, đạo đức của Việt Nam đã hoàn toàn bị phá sản. Chỉ cần mở trang báo Vnexpress.net ra là chúng ta sẽ đọc đưọc những vụ án kinh hoàng như sau:
- Tử hình đứa con sát hại cha. H. Bị cha mắng và xảy ra cãi vã trong lúc cùng ngồi ăn nhậu. Sỹ 20 tuổi ngụ tại Cần Giờ, đã cầm búa gây án với đấng sinh thành.
- Sát hại bà nội lấy tiền mua quà Noel cho bạn gái.Không có tiền mua quà tặng bạn gái nhân dịp Noel, T. 18 tuổi ở Thanh Trì Hà Nội đã sát hạin bà nội, chiếm đôi hoa tai vàng…
- Tội ác của nghịch tử sát hại cha mẹ. Ngày 25-6, trước cái chết của vợ chồng ông Dơi, hàng xóm mỗi người một việc lo đám táng. S Ai cũng phẫn nộ trước việc L. sát hại  dã man đấng sinh thành bằng hàng chục nhát búa( của Hồ chí Minh).
Những tội đái ác đối với vợ và người tình ( có nhiều trường hợp tương tự vụ Hồ chí Minh giét Nông thị Xuân!)
- Đoạt mạng vợ bằng 11 nhát dao.Sau tiếng la thất thanh trong đêm, hàng xóm chạy sang thấy bà Gái nằm gục trong nhà với  nhiều vét dao đâm…
- Đoạt mạng người tình sau khi ân ái.Th. 19 tuổi, quê Bến Tre. cầm búa giết chết cô gái vừa trao thân cho hắn trong nhà nghỉ để cướp nhẫn, điện thoại, xe máy, ví tiền…

- Tử hình người chồng ‘ác quỷ’.B.  giết vợ, mang xác xa 300 mét ném xuống giếng phi tang.
- N. sát thủ chặt đầu bạn gái gây ra vụ án chấn động lĩnh án tử hình. “( tất cả những hàng chữ nghiêng đều được trích ra từ trang mạng vnexpress.net)
Về bờ cõi, giang sơn. Biển khơi thì mất Hoàng Sa, Trường Sa, . Đất liền , biên giới thì mấtNam Qiuan bả Bản Gốc, Lão Sơn Tục Lãm , vịnh bắc bộ. Và nay là Tàu thuyền của kẻ thù phương bắc mặc sức tung hoành trên biển của ta. Tự ý đặt giàn khoan, khoan đất Việt ngay ngoài khơi cửa Đà Nẵng. Rồi trong đất liền thì chẳng mội nơi nào mà không có bóng dáng quan cán Tống Hán nghênh ngang, không luật lệ, vô phép  nưóc!
Những chuyện chướng tai gai mắt này ai cũng biết, ai cũng khó chịu, và ai ai cũng muốn trừ tận căn loài cộng phỉ để cứu nước. Trước là đem lại yên vui cho người, cho đời. au là cứu đất nưóc ra khỏi vòng kềm toả bá quyền của phương bắc. Tiếc rằng, vì nhiều lý do, từ công đến tư, vì giận hờn, vì chán nản. Đặc biệt là không thể tin nhau, không thể ngồi với nhau trong câu chuyện nên người dân Việt đã lặng lẽ như ngựa bỏ thẻ, người ngậm tăm. Tự coi Tổ Quốc là cái bánh không đường, cho dân tộc là câu chuyện phù phiếm. Cho văn hóa, đạo đức, luân lý xã hội là chuyện trên mây để rồi tự ý rút lui và cầu được yên thân trong cái vỏ ốc nhỏ bé, mặc cho thời gian quay vần. Tự nhường sân chơi, sân diễn cho đối phương tự do múa rối, tự do gian dối, tự do bạo tàn. Kết quả, xem ra thân phận kẻ nhường đường cũng chẳng được yên trong cái vỏ ốc nhỏ bé kia. Trái lại, bị quay cuồng trong những trò chơi gian trá, đầy độc ác của cộng sản. Cái vỏ ốc ta nằm càng ngày càng nóng lên và có thể mất cuộc sống bất cứ lúc nào. Bởi vì:
“Bọn gian tà còn bán nước cầu vinh Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ Dối trời lừa dân đủ muôn ngàn kế
 
Gây thù kết oán trải mấy mươi năm
 
Bại nhân nghĩa nát cả đất trời”  (Bình Ngô Đại Cáo)

Đây có phải là bức tranh của dân ta trong thời thời bị nô lệ từ nghìn năm trưóc ư?. Không, hoàn toàn không phải. Nếu đem suy từng câu, xét từng chữ, xem ra những hành động vô đạo của tập đoàn cộng sản Hồ chí Minh đã gây ra cho dân ta trong xuôt 80 năm qua còn độc ác, tàn bạo hơn thế nhiều. Hỏi xem, có thời nào nhà nước dạy dân đấu tố lẫn nhau như thời cộng sản không? Không, chắc chắn là không. Có cha mẹ nào độc ác với đàn con mà bảo như thế là thương yêu chúng chăng?  Có cha mẹ nào dối trời, lừa ngưòi, gạt con mà bảo rằng đó là lương tri là đỉnh cao trí tuệ ư? Có, đó là loại dì ghẻ độc ác. Có, đó là loại làm cha ngoại tộc, bất lương mà cộng sản tôn thờ!

Hỡi đông bào Việt Nam, trước thảm cảnh của dân tộc, trước nguy cơ đất nước của chúng ta bị tập đoàn cộng sản trao tay cho Trung cộng, chúng ta dòng máu của Tiên Long nên làm gì đây?
Cứ lặng lờ ngủ yên,vui theo những ngày phù du nô lệ? Hay cùng nhau cuồn cuộn như dòng thắc không ngừng, đứng lên trảm nội thù diệt ngoại xâm?  Này anh, này chị, này em có nghe chăng?

Đầu làng trống, cuối thôn chiêng, Cây cỏ nước Nam như nghìn mũi giáo. Muôn vạn binh, trăm ngàn mã, Thét tiếng loa cho Tống, Hán bay hồn. Vầng nguyệt tỏ, Ánh dương soi, Sánh cùng nước Việt muôn đời hùng vỹ.
Nay, Dòng sử Tiên Long bỗng gặp cơn nguy biến, Vận nước nhà lâm nạn cộng phỉ hại dân. Người trong nước đã muôn phần lao khổ, Lại cánh cánh bên lòng cái hoạ ngoại xâm. Thế cho nên Chiêng hồi trống thúc. Nào hỡi Tiên Long, Như ngàn lớp sóng, Cuốn trôi đại dương, Đọ gan trời đất, Chị ngã xuống, em đứng lên, Dẹp cho tan lũ cộng Hồ buôn dân bán nước. Mẹ phất cờ, Con ra trận, Quét cho sạch bọn bành trướng ra khỏi biên cương. Người trong nước, Kẻ ngoài biên, Quyết đưa biển cả núi cao về một cõi an bình thái lạc. Bởi gương xưa: Tiền nhân ta, một thước kiếm xây nền đế nghiệp. Dựng xã tắc, lấy Nhân Nghĩa yên định muôn dân. Cuộc mở nước như ngọn thuỷ triều trong trời đất, Dẫu hưng vong, vẫn lẫy lừng giữa chốn trời đông! Năm qúy Mão ( 43) đuổi Tô Định, Sử nhà Nam còn ghi tạc công đức Nhị Trưng. Dáng anh hùng, thân nhi nữ, Bờ sông Hát ngàn thu vẫn nghi ngút khói hương. Đất Thái Bình, (Giáp Tý 544) sinh Nam Đế, Dòng sử Việt thêm một lần vạn thế lưu danh. Cờ Thiên Đức, lầu Vạn Thọ, Ấy nơi hội tụ việc quân quốc Vạn Xuân. Vạn Xuân, vạn Vạn Xuân, Lúc khua chiêng, khi đánh trống, Trăm vạn mã, ngàn chiến thuyền, Nhấp nhô trên Bạch Đằng ( 938) như ngàn con sóng bạc. Tiếng quân Nam, trong gío bão. Thế vươn cao trên đỉnh thác trảm Hoàng Thao. Bàn chân Việt, bước thêng thang. Năm lần phá tan quân nghịch tặc cướp nước. Bến Chương Dương, thành Vạn Kiếp, Cửa Hàm Tử sóng hồng đỏ lấp non sông. Diệt Minh, Hán, triệt Thanh, Nguyên, Xoay cơ trời, định bờ cõi, xây nền Độc Lập. Đầu Toa Đô, thân Ô Mã, Mộng bành trưóng khó thoát nạn sinh bắc tử nam. Dòng nước xanh, vẫn miệt chảy. Kẻ nghìn sau còn thấy nỗi nhục Lưu Cung, Mà trang sử Việt vẫn thiên thu trường cửu. Sang Giáp Thân (1284), Hội Diên Hồng, Nghìn sau lưu dấu Hưng Đạo, Ngô Vương vì nước. Công dọc đất, nghiệp ngang trời, Làm cho khắp nơi sáng tỏ uy linh thần vũ, Vây Đông Quan, hãm Chi Lăng, Chỉ một trận mà Liễu Thăng thân vùi vó ngựa. Chém Thôi Tụ, tha Vương Thông, Kiếm Thuận Thiên bạt ngang trời, Lam Sơn vì nghĩa. Sang Đinh Mùi (1427) vạch biên cương, Đất chung một dải, thiên thư định phận: Mỗi nhà một cõi. Nước chảy cùng dòng, cao xanh đã tạo: Nguồn cội khác nhau. Nuôi ân đức, phạt cường bạo, Ta thuận lòng trời mà bốn bể lưu danh. Đến Kỷ Dậu (1789) mở đường sử mới, Bắc Bình Vương ra tới Thăng Long, Vào Ngọc Hồi, Sầm Nghi thắt cổ. Sang Đống Đa, xác Hán từng gò. Tiếng quân reo long trời lở đất, Tung vó ngựa, trúc chẻ ngói tan, Sỹ Nghị bỏ chạy mà Càn Long vỡ mật!
 Hỡi ơi, thế cuộc đổi thay,

Tổ quốc chưa vui hết ngày hội, mà nơi phương Nam lệ đổ tiễn Quân Vương Gặp cơn nước đục Nguyễn Ánh đi cầu binh ngoại để gieo cái hoạ cho nước. Đầu làng, cuối xóm chó sủa thâu đêm, dân tình không có được giấc ngủ yên. Trong nhà con thơ khát sữa, ngoài phố phu thợ, lao công thời ho ra máu. Ghê gớm thay, cuồng bạo thay! Cái ách phong kiến, ngoại xâm . Giữa trùng trùng tai trời ách nước, Hịch cứu nước lại vang vọng bốn phương. Vì Tổ Quốc, người yêu nước lại đứng lên vì nước. Mở tương lai, một giấc anh hùng, toàn dân lấy máu xương mà rửa quốc thù.
 
Sau trăm năm, đất xoay vần, cơ trời vừa chuyển động, Non sông chưa thoát ngoại xâm, cộng sản đã dựng cờ hồng. (1930) Gặp năm đói (1945) chuột đồng về phố, Cửa nhà hoang, máu đổ khắp thành. Sáng đấu tố, chiều đấu tố, đấu cho hết những người vì Tổ Quốc, “Đào tận gốc, trốc tận rễ”, quét cho sạnh đạo lý luân thường! Nơi tôn nghiêm, cộng kéo về là đá không còn chồng trên đá, Phá chùa xưa, đập giáo đường. Miếu thần hoàng gạch nát từng viên. Cảnh đồng hoang, hồ khô cạn. Xác chết chương lên giữa phố bốc mùi ô uế. Bầy chuột đói, chạy vòng quanh, bày đàn hương án, chia phiên bán nước cầu vinh. Ngày đại nạn, đất lặng tiếng, Trời ngủ yên, ai biết đâu mà réo gào. Trong đêm tối, đưòng mã tấu, như ánh sao, người ngã xuống cho vinh quang về với “bác”! Lúc nắng lên, đôi dép râu, vào từng nhà, ra tận mộ, réo từng ngừời mà tra khảo của. Người chết không nấm mồ, Kẻ sống mất gia nghiệp. Xác trên sông, theo dòng chảy, ấy công nghiệp vĩ đại Hồ tinh. Tám mươi năm, máu loang đồng, xương cốt khô chất cao bằng núi, Gớm ghiếc thay, lòng ác độc, lưỡi vô thường của loài lang sói cộng nô. Kinh hãi thay cảnh giết người, dẫu phong kiến, ngoại xâm xưa nay chưa thấy:
Thằng bé mới lên năm, mặt xanh như tàu lá, ngã chúi đầu trên sân, mồm ấp a ấp úng, Ông ơi, Hồ…. Hồ chí Minh giết người. Đứa trẻ năm xưa, nay đầu đã bạc, tên người tưởng ma, đổ gục xuống đất, đôi mắt trừng trừng, máu trào ra miệng. Lại cũng là… nó! Cắc…cắc… tùng… tùng…cheng!
Việt Minh lập hội, tiêu công lý, Cộng Sản kết bè, hết tự do. Hỡi ơi, cơn đau như xé ruột, Tiếng thét uất nghẹn giữa bờ môi. Mảnh đất nào cho dân ta ở, Nước sông nào cho dân ta uống, Gạo thóc nào cho dân ta ăn, Sữa mẹ nào cho con bú mớm? Tám mươi năm giặc cộng kéo về, Bấy nhiêu năm đau thương không cạn. Nay Tàu cộng lại toan chiếm biển đông. Ôi! ngày đại nạn, sao mãi ngủ yên!
Nào hỡi Tiên Long, Hãy một lần nhìn lại xem giang sơn cẩm tú. Bắc Hồng Hà, nam Cửu Long nối liền thân một gánh Hoàng Liên. Từ Nam Quan, đến Cà Mâu, lưng tựa Trường Sơn chung sức tràn ra biển lớn. Là cơ đồ, là sản nghiệp, là hơi thở, là máu xương của tiền nhân để lại cho lũ cháu đàn con Tủi hận chưa, Suốt một giải giang sơn không còn nơi nào thiếu dấu chân của quan cán thời Tống – Hán. Đau xót chưa, Bản Giốc, Lão Sơn, Hoàng Sa, Trường Sa… là đất mẹ bỗng đổi tên ra xứ người! Ôi! quốc phá gia phong, Nước mắt lau chẳng ráo, Thương vì hai chữ Non Sông. Dân không nhà, nước mất chủ quyền. Trên, chỉ có một bầy đoàn tham quan cán cộng vui mừng làm lễ lên ngôi thái thú. Dưới, phận lê dân như cái kiến sống đời nô lệ, nói gì đến hạnh phúc âm no. Hỡi toàn dân Việt, Tổ Quốc lâm nguy. Ai người vì nước, Đứng dậy mà đi. Người đi, chí toan bắt voi rừng hổ báo, Có lẽ nào lo ngại chồn cáo mèo hoang? Kẻ xuống biển tìm diệt kình ngư, hà bá, Có khi nào lại sợ cóc nhái dưới chân? Nào Ta đi cho Việt Linh ngời sáng, Này Ta về cho hồn nuớc trào dâng. Đất của Mẹ, một ngọn cỏ ta thề không bỏ, Núi nước Nam, một viên đá ta quyết chẳng rời. Chị ngã xuống, em đứng dậy, Diệt cho hết phường bán nước hại dân, Mẹ phất cờ, con ra trận, Quét cho sạch bọn bành trướng bắc phương. Người trong nước, kẻ ngoài biên, Dựng cho cao ngọn cờ Độc Lập. Hát cho đều tiếng hát Tự Do. Cho ngàn ngàn sau, dòng sử Việt còn lưu danh cùng trời đất. Cho vạn vạn thế, người nước Nam cùng bốn bể an lạc, hòa minh.

© Bảo Giang & Đàn Chim Việt