HẬU DUỆ VNCH HẢI NGOẠI LÀM HẢNH DIỆN CỘNG ĐỒNG VIỆT NAM TỊ NẠN CỘNG SẢN
Nữ Phi Công F-18 Elizabeth Phạm






Oystein Krogsrud và Eivind Senneset (photo), Bergen
“Hãy xem chừng đồ đạc của bạn” giám đốc khách sạn Asle Prestegard nói, làm như khách sạn Strand Hotel, bên cạnh Chợ Cá ở Bergen, hãy còn tai tiếng giống thời Nguyễn Ngọc Dũng mới đến như một thuyền nhân vào năm 1978. Khách sạn đã từng là nơi lui tới thường xuyên của gái điếm, người say rượu, người tị nạn, và ngay cả một con ngựa, theo lời của Hans “Hansemann” Bru, người quản lý bar khách sạn trong năm 1996.
Chuyện kể rằng nhiều năm trước, một trong những người khách đã mang con ngựa lên tầng 6 nhưng không thể mang xuống nếu không bắn nó. Có vẻ ngựa có thể lên cầu thang nhưng không xuống được.
Nguyễn Ngọc Dũng trốn khỏi Việt Nam bằng thuyền. Cuộc vượt thoát chấm dứt ở khách sạn Strand Hotel (tòa nhà màu trắng)
Vào thời đó, Khách sạn Strand Hotel là một nơi không người dân Bergen nào lui tới. Tương tự, các nhân viên không dám nói mình làm việc ở đó. Nhưng với Nguyễn và gia đình, và những người tị nạn khác, khách sạn tai tiếng đó được coi như thiên đường.
“Bữa ăn đầu tiên của chúng tôi ở Na Uy chỉ là bơ, một bữa tiệc hiếm hoi mà chúng tôi chỉ có thể tưởng tượng lúc ở Việt Nam, Nguyễn nói. Chúng tôi tích trữ khăn và xà phòng từ phòng của chúng tôi, vì nghĩ sẽ đến lúc cần trong cuộc chiến sắp tới. Cha mẹ tôi luôn lặp lại, khi chúng tôi đã đến Na Uy, không phải rằng chiến tranh có xảy ra không mà là khi nào xảy ra. Chúng tôi không có bất cứ trải nghiệm nào ngoài chiến tranh.
Được tàu chở dầu "Fernbrook" của Nauy vớt sau 2 đêm và 2 ngày rưỡi trên biển. Nguyễn thò đầu ra ngoài buồng lái của chiếc thuyền vượt biển đã cạn đồ an uống và nhiên liệu. Lúc đó em mới 7 tuổi
Bị xích trong ba tuần
Quả là một con đường dài, kể từ khi ở Việt Nam lúc Nguyễn và em trai bị xích vào một chiếc bàn trong ba tuần bởi gia đình để giữ bí mật kế hoạch vượt biên, cho đến khi họ đến nơi tiếp đón ở khách sạn Strand Hotel. Ngày nay Nguyễn ngồi dự một cuộc họp về thương mại ở Strand Hotel với Erling Falch Monsen, người chủ khách sạn, người quản lý khách sạn và bên phải là Asle Prestegard.
“Nhờ có d2o, công cụ điều hành của công ty của Nguyễn, chúng tôi có thể ngồi bất cứ đâu trên thế giới xem tổng quan về hoạt động của các khách sạn của chúng tôi, ngay cả đến năng suất của từng nhân viên.” Prestegard nói. “Công cụ này có thể giúp chúng tôi phát triển từ 1 đến 3 khách sạn với cùng một đội ngũ quản lý như trước”
Trong năm 2008, Tập đoàn Bergen Hotel Group, do Falch Monsen phụ trách, trở thành khách hàng của công ty của Nguyễn, d2o. Cùng năm, tập đoàn khách sạn mở rộng và tiếp quản khách sạn Strand Hotel, nơi trú ngụ cũ cho thuyền nhân mà Nguyễn đã ở.
Nguyễn sáng tạo d2o để phát triển công cụ điều hành cho kỹ nghệ khách sạn. Ngày nay, d2o được sử dụng bởi 60% thị trường khách sạn của Na Uy. Nguyễn khởi nghiệp công ty vào năm 2000 với chỉ tiền vốn 10.000 đô la, từ chỗ tài khoản trống rỗng trong ngân hàng trong năm hoạt động đầu tiên, nay trở thành một cỗ máy kiếm tiền kỳ diệu. Đây là một thay đổi lớn trái ngược với cuộc họp mặt khách hàng đầu tiên ở Copenhagen của Nguyễn khi anh đi phà đến Đan Mạch chỉ tốn 1 đô la để tiết kiệm tiền.
Nguyễn Ngọc Hoàng, em của Nguyễn Ngọc Dũng và là đồng sở hữu của d2o, được nhấc ra khỏi thùng dùng để đưa em lên boong tàu từ chiếc thuyền vượt biển
Gấp đôi với công cụ điều hành d2o
“Bạn đang ở vị trí rất tốt so với ngân sách của mình, mặc dù chiều hướng đại thể như năm ngoái” Nguyễn giải thích trong cuộc họp với Prestegard. “Bạn có thể kiếm lợi nhanh chóng hơn nếu dự hoạch ngân sách của mình mạnh dạn hơn tí nữa.”
Giám đốc khách sạn Prestegard quay người một chút trên ghế, trong khi ông chủ khách sạn Falch Monsen chồm về phía trước bàn.
“Có thể cảm thấy cần kìm lại một chút,” Prestegard nói.
“Thì ông được bảo đảm phần thưởng lớn hơn”, Falch Monsen trả lời.
Falch Monsen, Prestegard và Nguyễn di chuyển từ phòng tiếp tân của khách sạn Strand Hotel đến phòng họp công ty của anh ở Scandic Bergen City. Falch Monsen đã mua Scandic Bergen City vào năm 1976 khi ông còn là người phục vụ quầy rượu ở khách sạn Norge, mua một tòa chung cư với 64 căn hộ và 7 tiệm bán hàng với giá 230 ngàn đô la.
Chẳng bao lâu sau việc mua này ông đã phải bán căn hộ chung cư cao cấp và chuyển về một căn hộ nhỏ với vợ và các con để tránh phá sản. Tài khoản ngân hàng của ông thường xuyên trống rỗng đến nỗi ông bắt đầu bóc các con tem chưa đóng dấu trên các thư gởi đến, để bảo đảm ông có bưu phí cho các hóa đơn được gởi đi. Ông tiếp tục làm như thế, mặc dù ông đã có lợi nhuận 4,3 triệu đô la năm ngoái.
“Công cụ điều hành của d2o đã là một phần quan trọng trong thành công của chúng tôi khi chúng tôi tăng gấp đôi việc kinh doanh sau khi chúng tôi tiếp nhận hoạt động của Neptune Hotel và Strand Hotel trong năm 2008.” Falch Monsen nói. “Hệ thống cung cấp một cái nhìn tổng quan hàng ngày trong toàn bộ hoạt động của chúng tôi từ những gì chúng tôi bán trong quầy bar cho đến giá trị công lao động theo giờ.”
Mặc cả không ngừng
Giám đốc khách sạn Prestegard lại quay người trên ghế. Ông nghĩ ông đã tán dương đủ hệ thống quản lý của d2o. Ông dự định bắt đầu mặc cả với Nguyễn sớm để mua một giấy phép gia hạn.
Prestegard nhận xét, “Đó là một công cụ đắt giá, và việc huấn luyện cũng đắt, nhưng chúng tôi đã đạt đến một giá cả hợp lý.”
Prestegard là người lớn nhất trong ba anh em, tất cả đều là người điều hành khách sạn, tất cả đều là khách hàng của Nguyễn, và tất cả bọn họ đều mặc cả về giá tiền, bất kể những giá cả họ nhận được.
“Chúng tôi có hơn 400 khách hàng khách sạn, nhưng tôi có thể thành thật nói rằng chỉ có anh em nhà Prestegard mặc cả về giá mỗi khi họ nhận được một giá đề xuất, ngay cả sau khi thương lượng.”
Đắt tiền hay không. Chắc chắn không còn nghi ngờ rằng d2o đang lớn lên. Năm ngoái công ty đã đạt được lợi nhuận trước thuế 1,2 triệu đô la, doanh thu 3,2 triệu đô la, có được mức lợi nhuận 38%. Và sự tăng trưởng còn tiếp tục trong năm nay. Nhưng những con số này là quá nhỏ so với những gì được mong đợi nếu tất cả tiến hành thuận lợi theo kế hoạch của Nguyễn.
Cha mẹ của Dũng, bà nội và bốn anh em chụp hình ở Bergen khoảng gần một năm sau khi đến Na Uy. Dũng mặc áo sơ mi màu xanh đứng bên cạnh em tari. Bà nội sống đến 107 tuổi. Cha vẫn còn sống
Mơ về chuỗi khách sạn
Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn phát triển hệ thống cắt giảm chi phí và tăng năng suất trong công nghệ khách sạn. Trong lễ Giáng Sinh, anh đã từng chỉ nhận được một gói khoai tây chiên nhỏ.
“Phải mất vài năm ở Na Uy chúng tôi mới bắt đầu mừng lễ Giáng Sinh”, Nguyễn nói. “Để mừng Giáng Sinh, mẹ tôi luôn luôn mua một gói lớn khoai tây chiên giòn, chia làm 6 phần, và để mỗi gói cho mỗi đứa con dưới cây Giáng Sinh. Mặc dù chúng tôi đã biết đó là cái gì, chúng tôi cũng nhảy lên vui sướng vì chúng tôi chỉ được thưởng thức món xa xỉ này mỗi năm một lần”.
Ở Việt Nam, gia đình Nguyễn đã mượn nửa ký vàng, loại vàng lá, để trả cho chuyến đi, bắt đầu từ đêm 2 tháng 4 năm 1978 và chấm dứt vài ngày sau khi được một chiếc tàu dầu Na Uy vớt trong vùng biển Nam Trung Hoa. Ở Na Uy, cha anh tiếp tục tích trữ vàng, ngay cả khi đã trả hết nợ, vì sợ một cuộc chiến trong tương lai sẽ làm đồng tiền Na Uy mất giá, một kinh nghiệm họ đã gánh chịu nhiều lần trước đây.
Vàng được tích trữ để lo cho việc học của các con có thể trong lãnh vực được ưa thích là y khoa và kỹ thuật, đó là giấc mơ của cha mẹ anh. Nhưng Nguyễn đã theo một con đường khác. Ở tuổi 14, Nguyễn đọc một bài báo nói rằng khách sạn ở châu Á sẽ là một công nghệ phát triển trong tương lai, và từ đó anh mơ đến việc sẽ bắt đầu chuỗi khách sạn của riêng mình.
Muốn chinh phục thế giới
Trong thời hạn 5 năm chúng tôi sẽ đạt doanh thu đến 30 triệu đô la hằng năm, nhưng điều đó chỉ có thể làm được ở Mỹ,” Nguyễn nói.
Thời gian trôi qua khi Nguyễn, một người Việt Nam, với bề ngoài trẻ trung, tên là Dũng, mang kính trắng để trông có vẻ chín chắn hơn. Đây là lúc anh du hành qua hệ thống công nghệ khách sạn để tung ra công cụ quản lý mới của mình nhưng khó có ai nhận ra họ cần đến nó. Bây giờ, sau mười năm, thị trường Bắc Âu đã trở nên quá nhỏ, và là lúc chín muồi để chinh phục thế giới và thực hiện giấc mơ Mỹ. Đó là tất cả chiến lược của Nguyễn để đạt đến mục đích đầu tiên sở hữu chuỗi khách sạn của riêng mình. “Nếu chúng tôi đạt được giải pháp của chúng tôi đối với thị trường Mỹ, phần còn lại của thế giới sẽ theo.” Nguyễn nói.
Nguyễn đã nộp đơn xin thị thực vào Mỹ, mua một căn nhà trong một cộng đồng dân cư gần một cái hồ nhân tạo, và sẽ sớm sắp xếp lại toàn bộ hoạt động của mình, kể cả lo cho người vợ Bỉ và hai đứa con, từ Asker đến Florida. Một khách sạn Mỹ tiếng tăm đã sẵn sàng ký hợp đồng với d2o, nhưng Nguyễn hiểu rằng thành công sắp tới ở thị trường hiếu khách của Mỹ không thể có nếu anh không có mặt ở đó. Dù đã nghiên cứu kỹ, anh chưa tìm thấy một đối thủ cạnh tranh thực sự ở Mỹ.
“Chúng tôi đưa khoa học điều hành khách sạn lên một tầm mức tổng thể mới đi vào chi tiết.” Nguyễn nói. “Theo truyền thống, các khách sạn điều hành bằng cách sử dụng ngân sách hàng năm với trách nhiệm được giao phó. Tiến trình của chúng tôi hệ thống hóa dự báo việc hàng ngày cho tất cả các bộ phận quản lý tài sản, với đánh giá chi tiết chi phí mua sắm thực phẩm và công lao động theo giờ được sử dụng. Với công cụ của chúng tôi, một đầu bếp phải biết tại sao ông ta mua nhiều tôm hùm tươi hơn mức cần thiết, và tại sao ông ta phải bán tôm hùm dư thừa nấu súp với giá thấp hơn.”
Bước tiếp theo là phát triển công cụ điều hành với trí tuệ nhân tạo tích hợp có thể đảm nhận vai trò lãnh đạo tại một khách sạn bằng cách cung cấp hướng dẫn liên tục về cách thức các nhà quản lý bộ phận tương ứng có thể học hỏi từ những sai lầm của họ.
Khi người đầu bếp phải công bố tình trạng các kết quả của ngày hôm qua, ông sẽ được đánh giá đối chiếu với hiệu suất tốt nhất trong cơ sở dữ liệu, tiếp theo là lời khuyên làm thế nào để ông ta có thể cải thiện.
Muốn là người giỏi nhất
Nguyễn thỉnh thoảng xoa các quầng thâm dưới mắt do các cuộc họp qua điện thoại ở tất cả các giờ, với những khách hàng hoạt động ở các múi giờ khác nhau, xa nhất như Hawaii. Khi được hỏi điều gì đã khiến anh làm như thế, anh trả lời rằng anh không nghĩ về điều đó nhiều, vì anh không có sự lựa chọn khác hơn.
“Do quá trình giáo dục và đào tạo của tôi, tôi không có cùng suy nghĩ như một người Na Uy bình thường.” Nguyễn nói. “Tôi không nghĩ về việc tại sao tôi nên bỏ nhiều thời giờ hơn ở nơi nghỉ mát. Tôi muốn thành công. Tôi muốn là người giỏi nhất”.
Giấc mơ về chuỗi khách sạn và d2o ở đâu trong 10 năm tới?
“Tôi hình dung d2o sẽ được bán trong 10 năm nữa” Nguyễn nói. “Chúng tôi biết rằng công ty sẽ phát hiện những khả năng thú vị, và chúng tôi sẽ cần vốn.
Chúng tôi đã nhận được những đề nghị hấp dẫn để chia sẻ các dự án khách sạn, nhưng trước hết chúng tôi cần ưu tiên cho việc đầu tư ở Mỹ.
Như vậy giấc mơ lớn của anh vẫn là sở hữu chuỗi khách sạn của riêng mình?
“Giấc mơ của tôi là tiếp tục thành công nhờ khả năng và tài năng của mình”, Nguyễn giải thích.
Và lúc đó anh sẽ là cái gì còn hơn là người tư vấn?
“Vâng, vì đó là bản chất của xã hội chúng ta. Tôi không muốn nghĩ rằng đàn ông và phụ nữ giàu là tốt hơn, nhưng tôi phải thừa nhận rằng họ có ảnh hưởng lớn hơn trong xã hội. Tôi sẽ chơi đúng luật để đạt đến đó, nhưng tôi sẽ dùng sức mạnh của mình một cách khác.”
Vĩnh viễn là quả chuối
Sau hội nghị với khách hàng, Nguyễn đi trở lại phòng khách sạn ở Strand Hotel nơi gia đình đã ở sau khi đến vào năm 1978. Anh đi bộ qua cửa hàng bán đồ chơi nhỏ vẫn còn tồn tại, và nhớ có lần nó đã là một công viên vui chơi như thế nào cho những đứa bé từng sống trong một căn nhà làm bằng đất sét và tre, ban ngày giẫy cỏ cho cây lạc và ban đêm cho súc vật ăn.
Anh đi vào căn phòng khách sạn trống trên tầng 6. Anh nghĩ nó có vẻ nhỏ hơn khi anh ở đó với cha mẹ và 4 anh em. Anh nhìn xuống chợ cá ở đó anh đã từng câu cá.
“Chắc chắn chúng tôi sẽ từ Mỹ trở lại Na Uy. Na Uy là nơi gần gũi nhất như một quê hương đối với tôi. Nhưng tôi vẫn luôn là quả chuối, như người ta vẫn gọi chúng tôi ở Việt Nam.” Nguyễn giải thích. “Người châu Á ở bên ngoài, nhưng người châu Âu ở bên trong.”
“Tôi có một nỗ lực tự thân để chứng tỏ rằng tôi có thể đưa giấc mơ Mỹ vào văn hóa Na Uy” (Nguyễn Ngọc Dũng)
Bất kể chúng tôi làm việc cực nhọc và học giỏi ở trường như thế nào, những người châu Á chỉ là công dân hạng hai trong xã hội này. Chúng tôi là bác sĩ, kỹ sư, nhà khoa học, và gì nữa, nhưng chúng tôi sẽ không bao giờ ở giữa những người ăn anh đào với thành phần ưu tú. Chúng tôi không sử dụng ngôn ngữ thực sự, chúng tôi không có sự hiểu biết đầy đủ về văn hóa vì chúng tôi không được tiếp nhận nó từ trong sữa mẹ. Cũng cần nhiều thời gian trước khi những người Na Uy khác mời chúng tôi ăn tối. Chúng tôi luôn được gọi bằng tên trong một môi trường người ta gọi bằng họ. Có lẽ không phải chỉ vì tên chúng tôi khó phát âm.
Chúng tôi sẽ luôn luôn dịch, nhưng chúng tôi không có nơi nào để dịch. Chúng tôi ở trong một chốn vô định, chơi vơi. Nhưng tôi có một nỗ lực tự thân để chứng tỏ rằng tôi có thể đưa giấc mơ Mỹ vào văn hóa Na Uy. Thông điệp của tôi cho thế hệ thứ hai người Na Uy gốc Việt là họ không phải chỉ bằng lòng với việc trở thành kỹ sư hay bác sĩ. Mơ ước của tôi là có được quyền lực và sử dụng nó những cách khác nhau. Như Robin Hood.
· Công ty được thành lập vào năm 2000 bởi Nguyễn Ngọc Dũng, với sự hỗ trợ của Otto Lekven và người em Nguyễn Ngọc Hoàng, với sự chuyên môn hóa trong công cụ quản lý và tư vấn thương mại cho công nghệ khách sạn.
· Chiếm phần điều hành 60% của toàn bộ số phòng trong khách sạn Na Uy, với sự hỗ trợ của phần mềm PMI (thể hiện, điều hành, thông minh).
· Năm ngoái đạt kết quả lợi nhuận 1,5 triệu trên doanh thu 3,2 triệu.
· Đã có công ty Gazelle Company 4 năm liên tiếp.
· Hiện nay mở rộng từ Bắc Âu sang thị trường Mỹ, với kế hoạch hàng năm đạt doanh thu 40 triệu đô la chỉ ở Mỹ trong thời hạn 5 năm.
(HLBC dịch)
Vào ngày 2/11/2009, tác giả trẻ tuổi Úc gốc Việt, Nam Lê, đã được trao “Giải Thưởng Văn Chương của Thủ Tướng nước Úc về bộ môn Tiểu Thuyết”.
Giải thưởng này chỉ mới bắt đầu từ năm ngoái 2008, sáng kiến của chính phủ ông Kevin Ruđd. Do đó Nam Lê là tác giả thứ hai được trao thưởng trong lịch sử của giải văn chương này. Năm nay, giải thưởng cho mỗi bộ môn trị giá $100,000 và đã được Bộ Trưởng Nghệ Thuật Peter Garrett trao tặng.
Ban Giám Khảo bộ môn tiểu Thuyết, Peter Pierce, Lyn Gallacher và Joh Hay, đã ca ngợi tập truyện The Boat với “một nội dung táo bạo qua sự diễn đạt tuyệt vời, một không gian bao la của một cuộc hành trình tình cảm và xã hội, và sự hứng khởi mà mỗi câu chuyện đã tạo dựng”.
Bài phát biểu nhận giải của Nam Lê đã được ông Ben Hall, nhà xuất bản của anh đọc thế cho anh vì anh không tham dự được.
“Thường là một điều an ủi khi phải nói ra nhưng có lẽ nó cần phải được lập đi lập lại: rằng sách là cần thiết, rằng sách là cách trung thực nhứt để kể chuyện và cho chúng ta nhận ra chúng ta, rằng sách làm được những việc lạ lùng, không thể thay thế được mà những quái vật dị hợm của phim ảnh, truyền hình và internet không thể làm nổi”.
Cách đây một năm, vào tháng 11/2008, chúng tôi đã có loan tin Nam Lê được trao “Giải thưởng văn chương cao quý Dylan Thomas Prize” với tập truyện ngắn đầu tay này của anh. Trước đó, tác phẩm này cũng đã được trao tặng nhiều giải thưởng văn học khác
Đến tháng 5 năm nay, The Boat này lại mang về thêm cho anh một vinh dự nữa, lần này ngay tại nước Úc: “Giải Thưởng Văn Chương của Thủ Hiến tiểu bang NSW” năm 2009 (Book of the Year in the 2009 NSW Premier’s Literary Awards).
Cách đây 2 tháng, đêm 8/9/2009, bà Anna Bligh, Thủ Hiến tiểu bang Queensland, đã tuyên bố danh sách những văn sĩ thắng các Giải Văn Chương Queensland 2009. Văn sĩ trẻ tuổi Nam Lê, với tác phẩm The Boat, lại một lần nữa đoạt được một giải thưởng cao quý: “The STEEL RUDD PRIZE của Bộ Nghệ Thuật Queensland”, dành cho TUYỂN TẬP TRUYỆN NGẮN XUẤT SẮC NHỨT TRONG NĂM.
Quả thật, con đường và sự nghiệp văn chương của Nam Lê đang bắt đầu mở rộng.-
* * *
Nguyễn Mạnh Trinh
Ngày 10 Tháng Mười Một năm ngoái, một nhà văn gốc Việt Nam đã đoạt giải văn chương Dylan Thomas của Anh với lời khen tặng là “tác phẩm đầu tay có tính sáng tạo và nhiều cảm xúc.” Giải thưởng này dành cho những tác giả trẻ tuổi dưới 30 và có những tác phẩm đặc biệt nổi bật.
Ðây là một trường hợp của tuổi trẻ Việt Nam ở hải ngoại thành công một cách rất lý thú. Lê Nam được lựa chọn trong số năm tác giả trẻ nổi tiếng trên thế giới như các tác giả người Anh, người Nam Phi và tác giả người Ethopia.
Peter Florence, chủ tịch hội đồng tuyển chọn đã ca tụng anh Nam như một “hiện tượng văn học tài ba” mà những tác phẩm biểu lộ những rực rỡ hiếm có đầy sinh khí ở cả hai trong lăng kính quan sát thực tế chủ thể và cả tính chất của nghệ thuật viết văn.
Nhà văn Micheal McGaha đã viết trong San Francisco Chronicle:
“Bạn có thể chưa bao giờ nghe đến tên Lê Nam nhưng với ấn bản của tuyển tập truyện ngắn đầu tiên ‘The Boat’ bạn có thể trông đợi sẽ nghe nói nhiều hơn về bút danh này trong tương lai. Lê Nam sinh trưởng ở Việt Nam, lớn lên ở xứ Úc và đã là một luật sư trong một tổ hợp luật trước khi qua Hoa Kỳ để học lớp viết văn của trường đại học Iowa… Chưa tới 30 tuổi, anh đã hoàn tất một cách thật đặc biệt và cũng thật đầy năng lực chương trình học để đào tạo thành một nhà văn”.
Hiếm có một nhà văn nào, dù là người bản xứ viết bằng ngôn ngữ mẹ đẻ, trong tác phẩm đầu tiên, được sự đón nhận của giới phê bình văn học trên thế giới như thế. The Boat là một tuyển tập 240 trang do nhà xuất bản Knopf gồm 7 truyện ngắn được coi như là một tác phẩm tuyệt hảo của năm 2008, là người đoạt giải thưởng Pushcat Prize. Lê Nam đã tập trung vào những chủ đề như sự dời đổi của cuộc sống con người, những hiểm nguy cũng như cái giá phải trả của cuộc sống trong những xoay chuyển của thời thế. 7 truyện ngắn là bảy đề tài khác nhau, thời gian khác nhau, tính chất khác nhau và môi trường địa lý cũng khác nhau. Những nhân vật ấy sống ở Hoa Kỳ, Úc, Colombia, Iran và Việt Nam có những nền văn hóa khác nhau, những cuộc sống khác nhau và tâm tư cũng khác nhau biểu lộ những mẫu nhân vật không thể trộn lẫn và cũng thật khó nhòa phai trong tâm tư người đọc.
Tác phẩm của anh đã nhanh chóng được dịch ra nhiều thứ tiếng và sẽ được xuất bản ở Ý trong tuần lễ này.
Trước đó đã có các bản dịch tiếng Đức, tiếng Hòa Lan, và cũng sẽ có thêm tiếng Phần Lan, Tây Ban Nha, Pháp, Thụy Điển, Hàn Quốc, Nhật Bản và ngôn ngữ Hebrew của người Do Thái. Và sách in bằng tiếng Việt qua nhà xuất bản Nhã Nam.
Cũng với cuốn sách này anh Nam đã nhận được những giải văn chương nổi tiếng trên thế giới như giải UTS Glenda Adams trị giá 5 ngàn đô la cho một tác phẩm mới, giải Dylan Thomas, trị giá 60 ngàn bảng Anh tại Wales, Anh quốc, dành cho những tác giả trẻ tuổi. Anh cũng đoạt giải Anisfield-Wolf Book Award tại đại học Harvard. Ngoài ra, anh Nam còn được đề cử vào giải US National Book dành cho người dưới 35 tuổi.
Tác phẩm của Lê Nam không chỉ đem câu chuyện vượt biên và hình ảnh người thuyền nhân vào dòng chính văn học tiếng Anh, mà cốt truyện còn được chuyển tải qua nhiều nét văn hóa đặc trưng của người Việt Nam, như lối xưng hô qua đại từ quan hệ gia đình, giáo dục con cái, suy nghĩ và cư xử của những người phụ nữ.
Lê Nam có lối viết tả tình, tả cảnh sinh động. Những phong cảnh cũng như những nhân dáng được lột tả đẹp và có nhiều chất lãng mạn thơ mộng. Nhưng, trong những truyện ngắn ấy chứa đựng nhiều biến cố, nhiều dữ kiện bất ngờ và nhiều khi đẫm chất dục tình hoặc bạo lực.
Truyện ngắn cuối được chọn làm nhan đề cho tuyển tập “The Boat” là một truyện ngắn viết về thuyền nhân. Nhân vật chính là Quyên mang theo đứa con tên Trương vượt biển tìm tự do. Trương là đứa con của Quyên với người cha không thừa nhận nên vì sợ điều tiếng sầm xì nên gửi thân nhân nuôi nấng con. Do đó, tình mẹ con có một chút gì nhạt nhẽo một chút gì lấn cấn. Quyên thì trong cuộc hải hành cứ mải suy nghĩ về sự liên hệ lỏng lẻo giữa mẹ và con trong khi Trương thì cứ suy nghĩ và tưởng tượng ra người cha vắng mặt với những điệu hát câu ru buồn thảm. Trong thuyền, Trương có vẻ thân với Mai một cô gái đi chung chuyến tàu. Khi Trương bị bệnh nặng, nó thấy trên tàu vắng dần đi vì những người bị chết vì đói, vì khát, vì nắng bỏng cháy da, vì kiệt sức bởi ói mửa. Những người chết bị thủy táng, thân thể vứt xuống biển và làm mồi cho bầy cá mập lởn vởn bơi quanh. Trong cái không khí hãi hùng chờ chết ấy, người mẹ trẻ là Quyên cũng nghĩ đến lúc phải thủy táng đứa con vào lòng biển. Cuộc hải trình 13 ngày trên biển và những thuyền nhân khốn khổ gần như hầu hết bị kiệt sức khi đến đất liền.
Cái bi thảm không phải chỉ có trong The Boat mà còn ở trong 5 câu chuyện khác, từ cậu bé 14 tuổi người Colombia đến người họa sĩ trưởng thành và đau khổ ở Nữu Ước, trong cô bé trong tuổi teen-ager ở Úc, trong cô bé gái Nhật 8 tuổi ở Hiroshima vào Tháng Tám năm 1945 và trong người luật sư Hoa Kỳ đi thăm người bạn Iran ở Têhêran. Những mức độ của tính chất cá biệt ít thông dụng mấy nhưng những điều đáng lưu ý và là bản chất thực của những truyện ngắn là ngôn ngữ và mức vang vọng ở mức tuyệt hảo ở từng truyện. Tác giả đã dùng những tiếng lóng của băng đảng Colombia, những thành ngữ ca dao của Việt Nam hay những ngôn từ biểu dương lòng ái quốc của Nhật trong thời kỳ chiến tranh, tùy mỗi trường hợp để làm nổi bật cá tính. Bảy truyện ngắn là bảy văn phong, bảy ngôn ngữ khác nhau, bảy không khí truyện khác nhau đã làm người đọc khó tưởng tượng được rằng một tác giả mà viết được những truyện ngắn khác biệt và phong phú như vậy.
Lê Nam có tầm nhìn hướng về phía trước, của những tương lai hứa hẹn cho nên những thảm trạng đã thành quá khứ để một lúc nào đó chuyển biến thành kinh nghiệm để có sự vững vàng của hành trang bước vào đời.
Truyện ngắn đầu tiên của tuyển tập có nhan đề khá dài “Love and honour and pity and pride and compassion and sacrifice”. Bà Mi-chi-ko Ka-ku-ta-ni, một phê bình gia nòng cốt của mục điểm sách của The New York Times đã nhận xét đây là một truyện ngắn hay nhất của tập truyện này. Nhân vật chính trong truyện là một người có nhiều nét giống với tác giả, cũng tên Nam, cũng hành nghề luật sư ở Úc trước khi qua Mỹ để học trong lớp dạy viết văn tại đại học Iowa, trong một học trình tương đương với những lớp cao học. Anh tuy đang học viết văn nhưng lại bị bế tắc khi sáng tác dù đã cố gắng thay đổi nhiều phương cách, tỉ dụ như thay vì dùng máy computer thì lại dùng máy đánh chữ bởi vì viết bằng máy computer có thể sửa chữa được nên không có sự chú tâm còn viết với máy đánh chữ thì không thể bôi xóa sửa chữa nên dễ dàng để tập trung tâm lực hơn. Trong khi ngày thi gần kề Nam phải hoàn tất một truyện ngắn có tính quyết định của khóa học trong vòng ba ngày mà trang giấy còn trắng nguyên. Khi đang chấm bài cho sinh viên thì lại nhận được tin cha anh sẽ đến thăm anh trong hoàn cảnh anh không muốn biết cha anh biết mình có người yêu là cô gái người bản xứ da trắng tóc vàng.
Nam không muốn viết về đề tài chủng tộc và những xung đột văn hóa vì anh cho rằng chỉ cần nửa trang giấy với vài ẩn dụ cũng như vài nét đặc thù văn hóa là có thể dễ dàng viết thành một truyện như vậy.
Anh bế tắc đề tài và sau phải xoay về quá khứ với cuộc đời của người cha mà có lần anh nghe kể lại rằng ông là người sống sót trong thảm nạn ở Mỹ-Lai nhờ nằm dưới thân hình của vợ ông che chở. Ông cũng là một sĩ quan của quân đội miền Nam và đã bị ba năm tù cải tạo trước khi vượt biển đến Úc định cư.
Ông thực tình không muốn con mình theo nghề viết văn và đôi khi đọc những truyện ngắn của Nam về thuyền nhân mặc dù đươc bạn bè và những người chung quanh khen tặng nhưng ông vẫn phê bình là chưa phải là truyện hay bởi vì vẫn chưa lột tả được sự thật.
Cha của Nam là một người bố nghiêm khắc có lần đã đánh đòn Nam khiến anh bỏ nhà đến sống với người bạn gái nghiện hút. Mẹ Nam thương con lén chu cấp cho con, cha Nam biết được giận dữ cãi lẫy và hai người ly thân. Mẹ Nam khuyên con trở về nhà và cha của Nam cũng chấp nhận và hứa rằng không bao giờ nhắc đến chuyện đã qua nữa. Vì thế tình cha con đã có nhiều rạn nứt.
Khi thăm con ở Iowa, hai cha con nói chuyện suốt đêm và với những thu lượm ấy Nam hoàn tất truyện ngắn mà anh rất cần, ngay sau khi người cha đi ngủ. Anh hoàn thành truyện ngắn khi trời gần sáng và ngủ thiếp đi. Sáng dậy Nam không thấy người cha và bản thảo truyện ngắn vừa viết xong cũng biến mất. Anh đi kiếm và khi gặp người cha thì ông đã mang bản thảo truyện ngắn ấy vào thùng đốt lửa để sưởi của một ông già homeless. Nam quá tức giận vì người cha đã phá hủy một truyện ngắn cực kỳ quan trọng như vậy. Anh đã nói với cha rằng ước gì ông đừng đến thăm và ông không phải là cha của anh.
Sự thâm trầm trong cách diễn tả đã phác họa được chân dung người cha, đã trải qua những giây phút sống sót khi nằm dưới sự che chở của thân thể người vợ dưới làn đạn bắn như mưa và cũng đã qua trại tù Cộng Sản, đã qua những ngày vượt biên sóng gió, nên ông muốn cuộc đời còn lại phải có ý nghĩa và thực hiện được những việc đáng kể, để không uổng phí những kinh nghiệm đắt giá của cuộc sống. Vì thế ông nghiêm khắc với con và bắt Nam vào khuôn khổ để hoàn thành những ý nguyện của ông. Nhưng Nam lại ở một thế hệ khác, có môi trường sống khác, mà tự do cá nhân được tôn trọng. Thành ra giữa cha và con có sự xung đột, mà chính là sự xung đột của hai nền văn hóa, hai đời sống khác nhau. Sự phá hủy bản thảo của người cha có biểu tượng gì trong dụng tâm của Lê Nam? Có phải là một hành động đốt bỏ đi một quá khứ? Hay là để khởi đầu cho một hứa hẹn đúng nghĩa về sau? Dù sao, đó cũng là một bất ngờ cho độc giả.
Có rất nhiều lời khen tặng từ các nhà văn, phê bình gia có tăm tiếng như Giáo Sư Marilynne Robinson của Ðại Học Iowa, hay nhà văn đoạt giải Pulitzer năm 2008 Junot Diaz. Hầu như họ đền có cùng một cảm nghĩ là sự trưởng thành lão luyện đầy tính sáng tạo một cách không ngờ từ một tác phẩm đầu tay của một cây bút trẻ. Nét đặc sắc dám đi trên một con đường chưa ai đi qua và dám trực diện với những vấn đề mà ngay cả những nhà văn có nhiều kinh nghiệm cũng e dè né tránh. Chọn lựa những không gian thời gian khác, khai triển từ những nền văn hóa khác nhau để có những nhân vật đặc thù như những phác họa chân dung con người tùy theo cách nhìn cũng như vị trí, chỗ đứng quan sát.
Ngôn ngữ thơ, với Lê Nam, dù để mô tả những tình trạng cảm xúc tột độ, đã tạo cho tác phẩm một làn sương phủ mà ở đó, từ những chiết- quang xuyên suốt sự kiện để cái nhìn của độc giả nhân-bản hơn và cũng lãng-mạn hơn. Viết về dục tính, truyện ngắn của Lê Nam là những khám phá, là kết quả của một chuỗi dài suy tư của một hành trình tìm kiếm.
Từ thiếu thời, Lê Nam có nhiều giấc mơ. Giấc mộng văn chương, giấc mộng là một cầu thủ bóng tròn nổi tiếng, nhưng thi ca mới chính là giấc mơ ảnh hưởng nhiều đến cuộc đời anh.
Khi viết truyện ngắn, Lê Nam thú nhận rằng mình đã áp dụng nhiều phương cách khác nhau. Có khi làm dàn bài chi tiết với tất cả diễn tiến từ a tới z, nhưng cũng có lúc anh buông thả theo cảm hứng để tạo bất ngờ với ngay cả chính mình là người sáng tác.
Lê Nam cho rằng mình chịu ảnh hưởng của nhiều tác giả, và tiểu thuyết mà anh cho là gây ấn tượng nhiều là Moby Dick của Melvile về chuyện săn cá voi trắng mà các học sinh lớp trung học ở Mỹ phải học. Viết truyện ngắn, là sự hòa hợp giữa sự thực và sự không thực, là soi rọi giữa chân dung mình và chân dung người khác. Nhân vật ấy có thể không có trong đời thường nhưng lại có nét sinh động của một đời riêng. Cái chung và cái riêng nhòa nhạt đi, để người đọc đôi khi như bị đi lạc vào một thế giới mà hình như có dáng hình chính mình lờ mờ trong đó.
Ðọc truyện của Lê Nam tôi thấy sự cố gắng một cách có suy nghĩ để tìm những điều mới lạ trong văn chương anh. Từ những mẫu nhân vật đến môi trường sống, từ suy nghĩ của con người từ những không gian thời gian khác nhau nhưng cùng có một điểm chung là mong mỏi khám phá được những góc cạnh sâu thẳm của nội tâm con người. Ngay như những truyện viết về những thuyền nhân Việt Nam hay từ những nhân vật có nhiều nét tương tự bản thân tác giả, người đọc là tôi đã tìm được nhiều nét mà các tác giả khai thác chung một đề tài chưa đề cập tới.. Chưa hẳn là phức tạp, chưa hẳn là cảm giác chung- chung, mà chính là sự tìm kiếm để tạo thành những bất ngờ và những tầm nhìn khá độc đáo. Làm thuyền nhân, dĩ nhiên là đối diện với nguy hiểm, với đói khát, với bệnh tật, nhưng ngoài những điều đó, còn những gì khác? Có phải là từ những mảnh đời khác nhau, từ những suy- cảm khác nhau để nói lên một điều gì đó không phải là lời đồng ca đã bị thành nhàm chán? Hoặc là như nhân vật người cha, là nạn nhân sống sót của một cuộc tàn sát, là một người tù cải tạo, là một người mong mỏi làm được một việc gì đó cho đời nhưng vô vọng, nhân vật ấy có nhiều trong đời thường. Nhưng chỉ thế thôi thì đã thành quen thuộc nên hành động đốt bản thảo của đứa con đã tạo cho độc giả nhiều liên tưởng. Tại sao? Có phải vì muốn đoạn tuyệt quá khứ? Hay cho rằng chữ nghĩa cũng chưa đủ để chuyên chở nỗi đau? Hoặc là biểu hiện cho sự xung phá giữa người cũ và người mới, giữa quá khứ và hiện tại?
Nhà phê bình Mi-chi-ko Ka-ku-ta-ni đã viết về Lê Nam và tác phẩm The Boat:
“Không những anh viết với một cách thế có thẩm quyền từ những phát biểu đầy tự tín rất hiếm thấy mà ngay cả chính những người cầm bút lâu năm vẫn chưa có được, anh còn thể hiện tài năng khi phác họa hiện thực được những xung đột nội tâm của những người khi họ chứng kiến mộng ước hoặc nguyện vọng của mình bị chà đạp bởi những ràng buộc của gia đình hay từ sức mạnh lôi theo của vòng quay lịch sử tàn khốc”.
Và, viết nhận xét như vậy không phải là quá lời, dù Lê Nam mới bước vào văn nghiệp! Không phải chỉ riêng có Michiko Kakutani nhận xét như vậy mà còn có nhiều cây bút cự phách khác của The New York Times như Patrica Cohen hay John Freeman của Chaleston City Paper… cũng hết lời khen tặng. Người viết vừa đoạt giải Pulitzer là Junot Diaz cũng nhận xét rằng The Boat là một tác phẩm phi thường hiếm có…
Lê Nam rất còn trẻ, tên thật là Lê Hữu Phục Nam sinh năm 1979 và khi ba tháng tuổi đã được mẹ bồng đi để vượt biên, đến định cư tại Úc. Dù với căn cước lý lịch của người Việt tị nạn nhưng Lê Nam có tham vọng muốn trở thành một nhà văn khai phá đa dạng. Những truyện ngắn của anh có khuynh hướng muốn trải rộng ra những môi trường sống, muốn tìm kiếm trong những nền văn hóa khác nhau chân dung của con người muôn thuở.
Xem ra, anh chỉ trong bước khởi đầu nhưng từ tác phẩm đầu tiên đã là những bước đi vững chắc khá ngoạn mục!