Showing posts with label Lịch sử ViệtNam. Show all posts
Showing posts with label Lịch sử ViệtNam. Show all posts

Wednesday, November 7, 2018

Ai có quyền viết sử Việt Nam?

CON ĐƯỜNG CHÍNH SỬ

“…Không ai có quyền viết sử Việt Nam ngoài chính dân tộc Việt Nam đang chịu đựng dưới ách độc tài CS. Con đường có thể còn xa nhưng là con đường chính sử…”
quyen_vietsu
Cho đến nay, đảng CSVN biện luận lý do họ vẫn còn cai trị và sẽ tiếp tục cai trị đất nước Việt Nam vì chỉ có đảng CSVN mới là đảng duy nhất thật sự mang lại độc lập, tự do và hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam. Không đúng. Đó là lý luận của kẻ cướp.

***

               Ai có quyền viết sử Việt Nam?


Một bức hình lịch sử. Ảnh mang tính minh họa (nguồn internet)
Từ hậu bán thế kỷ 19 đến nay, có bao nhiêu cuộc chiến, trong đó các bên đã đổ máu, diễn ra trên đất nước Việt Nam?
Câu trả lời tùy thuộc vào người bạn hỏi là ai.

Friday, March 27, 2015

Giới trẻ nghĩ gì về hiệp định Geneve 1954 và hiệp định Paris 1973

Chân Như, phóng viên RFA

2015-03-25
geneva1954-305.jpg
 
Ông Tạ Quang Bửu, trưởng đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tại buổi ký Hiệp định Genève 1954.
Photo courtesy of wikipedia

Wednesday, July 3, 2013

Võ Nguyên Giáp- Điện Biên Phủ- và chai rượu Whisky

dbp
  
       Chiến thắng Điện Biên Phủ cuối cùng đã làm nên tên tuổi tướng Giáp. Nói đến tướng Giáp là nói đến ĐBP. Nhưng quan trọng hơn cả, đó là sự thất bại của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Việt Nam. Nó đánh dấu sự cáo chung của chế độ thuộc địa ở Đông Dương và mở ra một kỷ nguyên mới cho các nước thứ ba, các nước Á Châu cũng như Phi Châu trên toàn thế giới.

Tuesday, June 25, 2013

Không ai trong số họ đã hô “Việt Nam Quốc Dân Đảng muôn năm”

Viết bởi Trần Trung Đạo.
Vào khoảng thời gian này 83 năm trước, tức vài hôm sau Ngày Tang Yên Bái, ngày 17 tháng Sáu năm 1930, bức hình bên đây được đăng trên báo Pháp. Mười ba chiếc đầu của các đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng vừa bị chém còn phơi trên bãi cỏ. Chiếc đầu được đánh dấu tròn được tờ báo ghi chú “đây là đầu của Nguyễn Thái Học”.
Theo tác giả Hoàng Văn Đào trong tác phẩm “Từ Yên Bái tới ngục thất Hoả Lò”: Trong chuyến xe lửa bí mật, riêng biệt khởi hành từ Hà Nội lên Yên Bái, các tử tù cứ hai người còng làm một, trò chuyện ở toa hạng tư trên một lộ trình dài 4 tiếng đồng hồ. Cùng đi với các tội nhân còn có thanh tra sở mật thám Pháp, hai cố đạo người Âu là Linh mục Mechet và Dronet. Máy chém di chuyển theo cùng chuyến xe. Đao phủ thủ phụ trách buổi hành quyết là Cai Công. Cuộc hành quyết khởi sự vào lúc 5 giờ kém 5 phút sáng ngày 17.6.1930 trên một bãi cỏ rộng với sự canh phòng cẩn mật của 400 lính bản xứ. Xác chết 13 người chôn chung dưới chân đồi cao, bên cạnh đồi là đền thờ Tuần Quán, cách ga xe lửa độ một cây số.

Thursday, April 25, 2013

30-4-1975: Thắng cuộc hay tội đồ?

 
    Chiến tranh Việt Nam kết thúc ngày 30-4-1975.  Cho đến nay, cộng sản Việt Nam (CSVN) thường tự hào họ là bên thắng cuộc.  Nhân mùa Quốc hận năm nay, có lẽ nên thử trở lại vấn đề ai là bên thắng cuộc trong cuộc chiến 1960-1975?
30-4-75-sai-gon-that-thu

1. Thế nào là bên thắng cuộc?

Trước hết cần phải xác định thế nào là thắng cuộc thì mới có thể biết bên nào thắng cuộc?  Thông thường, bên thắng cuộc là bên thực hiện được mục đích do chính bản thân đặt ra trước khi tham chiến.
Những bên tham chiến vừa qua là:  Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) hay Bắc Việt Nam (BVN),  Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN), Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) hay Nam Việt Nam (NVN).  Ngoài ra, phía BVN có Liên Xô và Trung Quốc viện trợ và gởi quân làm cố vấn và bảo vệ BVN.  Phía NVN có Hoa Kỳ viện trợ và gởi quân tham chiến.

Sunday, March 24, 2013

Nhìn lại đống rác lịch sử “đánh Mỹ cứu nước” của CSVN

Thứ Năm, 28 tháng Hai năm 2013 03:37

vn linh2


        Ngày nay qua những khai quật của lịch sử trong núi kho tàng dữ liệu từ Pháp, Mỹ tới khối đệ tam cộng sản quốc tế và VNCH, cho thấy những “chiến thắng” của Lê Duẩn, Võ nguyên Giáp, Văn tiến Dũng.. tại miền Nam trong suốt 20 năm đối mặt với QLVNCH, thật ra cũng không có gì là vĩ đại như đảng tuyên truyền. Những trận Ấp Bắc, Ðầm Dơi, Hiệp Hoà, Suối Ðá,An Lão, Bình Giã.. cho tới cuộc đại chiến hồi Tết Mậu Thân (1968), những trận đánh long trời trên đất Cao Miên, Hạ Lào, rồi Vũng Rô, Ba Gia, Phụng Dư, Ðồng Xoài, Ðức Cơ, Bố Ðức,Cồn Tiên, Làng Vây, Cô Tô, Trí Pháp.. và mùa hè đỏ lửa 1972 cho đến hồi gần kết cuộc tại Dục Mỹ, Phan Rang, PhanThiết, Xuân Lộc, Biên Hòa, Phước Tuy, Long An, Sài Gòn.. Mọi nơi, khắp chốn, từ trong núi cho tới thị thành, lúc nào VC cũng lơi dụng thời gian hưu chiến để đánh lén, hồi nào cũng biển người, khi nào cũng có hỏa lực hùng hậu đưọc viện trợ hay mua chịu trả sau từ Nga, Tàu, Ðông Âu, Ðông Ðức... nhưng đâu có lần nào thây không phơi xác đầy bãi, đánh nhanh, rút vội quay về rừng, bỏ lại xác đồng chí đồng đội cho QLVNCH chôn cất ?!

Monday, January 28, 2013

Mỗi người Việt yêu nước nên đọc ...

   ....hết Hiệp Định Paris 1973 này...  

        Chú ý Chương V Điều 15 và Chương VIII Điều 21 

    để thấy thêm tội ác của đảng CSVN đối với dân tộc và đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta.

 
       ***

     Toàn văn Hiệp định Paris 1973

Dân Làm Báo gửi đến các bạn trong thôn toàn văn bản Hiệp Định Paris 1973. Xin cám ơn bạn đọc Truyền Tấn đã gửi tài liệu cùng lời giới thiệu:
 

Sunday, January 27, 2013

Bài diễn văn của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu vào ngày 24 tháng 10 năm 1972 (phần 1)

Trần Quốc Việt (Danlambao) - Lời mở đầu cho chuyên đề về Hiệp định Hòa bình Paris
Lịch sử là lớp sương mù khi diễn ra và là bi kịch khi nhìn lại. Càng bi kịch hơn khi ta nhận ra lịch sử là khởi đầu cho tấn bi kịch mà hồi kết vẫn chưa chấm dứt trong tương lai gần. 

Đấy là ý nghĩ riêng của tôi sau khi đọc nhiều tài liệu, đa phần từ sách báo Mỹ, về Hiệp định Hòa bình Paris. Số phận của một quốc gia và số phận của hàng chục triệu người dân không ngờ lại bị chi phối nặng nề bởi một hiệp định mà đã bị vi phạm ngay từ ngày đầu. 

Là người hậu sinh, hôm nay tôi tìm về lịch sử để hy vọng qua đó hiểu về mình và về dân tộc mình. Bốn mươi năm trôi qua là bốn mươi năm chứa đựng biết bao nước mắt và tang thương cho Việt Nam. Đối với người cộng sản đây là chiến thắng của "nhân dân", đối với nhân dân đây là bi kịch lớn. 

Lịch sử phải được nhìn qua nhiều phía, qua nhiều lăng kính. Trên tinh thần ấy, hôm nay tôi sẽ chia sẽ với các bạn những điều tôi đọc được trong thời gian dài qua. 

Loạt bài về Hiệp định Paris sẽ được mở đầu bằng bài diễn văn dài của Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu. Bài diễn văn này được đăng nhiều kỳ. Sau đó là các bài dịch và tổng hợp về Hiệp định Hòa Bình Paris. Mời các bạn đọc theo dõi.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: "Sống mà không có tự do là chết"

 
 
"Đối với các ông chúng tôi không hơn gì là chấm nhỏ trên bản đồ thế giới. Nếu các ông muốn từ bỏ cuộc đấu tranh, thì chúng tôi sẽ chiến đấu một mình cho đến khi nào vô phương, và rồi chúng tôi sẽ chết... Đối với chúng tôi, sự chọn lựa là giữa sống và chết. Đối với chúng tôi ký vào hiệp định, mà chẳng khác gì đầu hàng tức sẽ chấp nhận bản án tử hình, vì sống mà không có tự do là chết. Không, sống như thế còn tệ hơn cả chết!" - Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

*

Vào ngày 18 tháng 10, Henry Kissinger bay trực tiếp từ Paris đến Sài Gòn để báo cáo Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu về hiệp định hòa bình. Buổi họp ngày 19 tháng 10 kéo dài gần hai giờ. Sau khi lắng nghe Kissinger thuyết trình, ông Thiệu muốn có bản thảo hiệp định. Ông được trao cho bản tiếng Anh. 

Cuộc họp trở nên xấu đi. Đầu tiên, ông Hoàng Đức Nhã, cố vấn cho Tổng thống Thiệu, chỉ được trao cho bản tiếng Anh. Ông Nhã phẫn nộ đáp lại: "Chúng tôi không thể thương lượng số phận của nước mình bằng tiếng nước ngoài!" Ông rất tức giận đòi có bản tiếng Việt. Ông Nhã muốn thấy bản tiếng Việt mà những người cộng sản đã trao cho Kissinger. 

Kissinger nói, "À, chúng tôi quên." Ông Nhã đáp: "Ông muốn nói gì thế, ông quên ư?". Rồi ông Nhã chế giễu toàn bộ quá trình hội nghị và ông nói với Kissinger, "Ông muốn bảo tôi người Mỹ có thể hiểu tiếng Việt hơn người Việt? Chúng tôi muốn thấy bản tiếng Việt." 

Về sau khi nhận được bản tiếng Việt, ông Nhã mới nhận ra rằng nhân dân Miền Nam được yêu cầu ký vào bàn hiệp định mà tương đương như bản tuyên bố đầu hàng. 

Saturday, January 26, 2013

Nhân Ngày Ký Hiệp Định Paris 27.1.1973: Nói về những kẻ thực hiện Âm Mưu Hòa Bình Chủ Bại










Picture shared at  Vietnam Saigon's
 
             Nhìn hình ảnh này càng hiểu ra lòng dân lúc đó cũng bất bình với bọn phản chiến việt gian qua cái gọi là "phong trào đòi hòa bình (âm mưu hòa bình chủ bại), đòi Mỹ rút quân về nước, quyết khai tử VNCH đến giọt máu và hơi thở cuối cùng", trong số đó phải kể tên các ông họ Thích của PG Ấn Quang như Quảng Độ, Hộ Giác, Trí Quang, Nhất Hạnh, Đôn Hậu,... và đại việt gian phản chiến Võ Văn Ái.



Đây chính là sự thật hiển nhiên không gì có thể thay đổi được. Cho dù ngày hôm nay đồng bào có "cúng dường hàng triệu đô la" cho nhóm mạo danh họ Thích "ăn cơm quốc gia làm lợi cho ma CS này" thì cũng không thay đổi được thực tế PHẢN QUỐC của chúng.

Xin đừng ai ngụy biện rằng chuyện xưa gác lại cùng nhau đoàn kết chống cộng. Bởi đó chính là sự ngụy biện HÈN HẠ đó. Đoàn kết sao được khi mà đến giờ phút này, những ông mạo danh họ Thích vẫn tiếp tục ngậm máu phun VNCH bằng những ngôn từ "ngoại bang" (Quảng Độ, 2011), "quân phiệt" (Võ Văn Ái, 2012)... 

Tuesday, January 22, 2013

Hiệp Định Paris, một bản án tử hình?

          Hiệp định Paris khai mạc vào ngày 10-5-1968 dưới thời Tổng thống Johnson. Tổng thống Nixon nhậm chức đầu năm 1969 tiếp tục cuộc đàm phán cho tới bốn năm sau mới ký kết vào ngày 27-1-1973. Mới đầu Nixon tưởng cuộc hoà đàm sẽ kết thúc năm 1969 nhưng không ngờ nó kéo dài cho tới 4 năm sau. Ông kể lại trong cuốn No More Vietnams trang 126: Những năm 1965, 66, 67, 68



Lê Đức Thọ và H. Kissinger bắt tay sau khi ký kết Hiệp Định Paris
      dưới thời Johnson-McNamara phong trào phản chiến ôn hoà, chỉ có biểu tình hoặc đốt thẻ trưng binh nhưng sang 1969, khi Nixon lên cầm quyền phong trào đã biến thành bạo động dữ dội. Sinh viên bắn cảnh sát, dùng dao uy hiếp ban giám đốc nhà trường, bắn súng, đốt nhà, ném bom lớp học, bạo động lan ra toàn quốc.
Năm 1970 Mỹ yểm trợ cho VNCH hành quân sang Cambodia khiến cho phong trào bạo động lan ra toàn quốc dữ dội, có đổ máu, năm 1971 hành quân sang Hạ Lào. Nixon cho biết sở dĩ ông cho hành quân đánh vào các căn cứ bên kia biên giới để phá hủy hậu cần CS, ngăn chận những đợt tấn công của họ trong năm tới để có thể rút quân và giúp VNCH bảo vệ lãnh thổ, những người phản chiến đã phá hoại chương trình của ông. Nixon cho biết vì phản chiến làm rối loạn đất nước đã khiến cho CSBV lần khân không chịu ký Hiệp định Paris, họ hy vọng nhiều vào phản chiến. Phong trào phản chiến và Quốc hội chống đối ông đã khiến cho cuộc hoà đàm bế tắc trong bốn năm liền.
Cho tới 26-10-1972, Kissinger họp báo lạc quan tuyến bố,
“Chúng ta có thể tin tưởng hoà bình đã ở trong tầm tay, chúng ta có thể tin rằng đã thấy hoà ước”
(“We believe that peace  is at hand.We believe that an agreement is within sight” – No More Vietnams, trang 154).

Tuesday, January 15, 2013

Hiệp định Paris: từ xấu hổ đến nhục nhã

  - Không giống về bản chất, nhưng có cùng một nguyên tắc, sau một chu kỳ kinh doanh hay chiến tranh, bao giờ người ta cũng tổng kết xem lời lãi trong kinh doanh ra sao? hay thành quả đạt được sau chiến tranh có tương xứng với máu xương đã bỏ ra! Hiệp Định Paris 1973 cũng vậy, cần tổng kết những gì nó mang lại cho đất nước và dân tộc Việt Nam hôm nay sau chữ ký “bịp bợm, lọc lừa” của CS Bắc Việt và tay sai nối dài của nó là MTGPMN trên văn bản ấy, 40 năm trước...

*

“Nhân kỷ niệm 40 năm ngày ký kết Hiệp Định Paris (27/1/1973 - 27/1/2013), hàng loạt sự kiện, hoạt động sẽ diễn ra cả ở Việt Nam và Pháp. Thứ trưởng Bộ Ngoại giao CHXHCN/VN Nguyễn Phương Nga cho biết như vậy, riêng ngày 25/1, tại Hà Nội sẽ diễn ra lễ kỷ niệm cấp Nhà nước với sự có mặt của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các thành viên hai đoàn đàm phán và bạn bè quốc tế”. (CAND Online)

Đây! bạn bè quốc tế của “đảng ta” Bí thư Đảng CS Pháp chào mừng: “Cộng sản không phải là một xã hội lý tưởng cần đạt đến”.

(Trả lời phỏng vấn nhật báo cánh tả Libération của Bí thư Đảng Cộng sản Pháp Pierre Laurent, 2012 – RFI) 

VIỆT CỘNG XÂM LĂNG HAY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM VIỆT NAM VÀO NGÀY 30-4-1975


Một cảnh VC triển lãm chiến tích với lá cờ MTGPMN

             Trong suốt hơn 2 Thập Niên cuối Thế kỷ 20 cho đến nay, mỗi lần mốc thời gian 30 tháng 4 Dương lịch đến, là một lần nhân dân các nước Tự do Dân chủ trên toàn Thế giới lại phải ngạc nhiên tìm hiểu, không biết tại sao những người cùng dòng giống Tiên Rồng Việt Nam đang sống định cư nơi hải ngoại và trên đất nước Việt Nam, lại bộc lộ hai thái cực VUI =/= BUỒN đối nghịch hẳn nhau? Ở trong nước thì ồn ào kiêu ngạo kỷ niệm Ngày Đại Thắng, còn nơi hải ngoại lại xót xa tổ chức mít tinh tưởng nhớ Ngày Quốc Hận???
 
           Nhưng kể từ ngày 27 tháng 12 năm 2001, sau khi đọc các bản tin bằng Anh ngữ của Thông tấn xã Trung Cộng tại Bắc Kinh và của hãng tin Nhật Bản từ Nam Ninh đưa lên mạng Internet toàn cầu, loan báo sự kiện 2 phái đoàn ngoại giao đại diện cho các bạo quyền Trung Cộng và Việt Cộng sát cánh bên nhau, hân hoan tổ chức Lễ đặt cột mốc đầu tiên tại Móng Cái, để chính thức định lại ranh giới giữa 2 nước Việt Nam và Trung Hoa.

Rồi những ngày tiếp theo, các Cộng đồng người Việt định cư trên toàn Thế giới tổ chức liên tiếp những cuộc biểu tình, chống đối và lên án Đảng và Bạo quyền Việt Cộng đã DÂNG ĐẤT HIẾN BIỂN của Tổ quốc Việt Nam cho quan thầy Trung Cộng, để được quan Thầy che chở yểm trợ cho Đảng đứng vững mà tiếp tục đàn áp bóc lột nhân dân Việt Nam bằng độc đảng chuyên chính tập quyền toàn trị.

Đồng thời, một số nhân sĩ dũng cảm ở trong nước đang dấn thân đấu tranh đòi Tự do Dân chủ Nhân quyền cho Dân tộc Việt Nam, cũng can đảm trình bầy quan điểm của mình để trả lời các cuộc phỏng vấn (giờ chương trình Việt ngữ chuyển qua các làn sóng điện về Việt Nam hàng ngày) của các đài phát thanh lớn ngoại quốc như BBC (Anh), RFI (Pháp), và RFA (Á Châu Tự do của Hoa Kỳ) về các vấn đề biên giới trên đất liền và hải phận trong Vịnh Bắc phần giữa Việt Nam và Trung Hoa.

Monday, January 7, 2013

Về cuộc hải chiến Hoàng Sa

Bia chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa trước năm 1974. Ảnh: hoangsa.org

Bia chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa trước năm 1974. Ảnh: hoangsa.org

     Cuộc hải chiến Hoàng Sa giữa Hải quân Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) và Hải quân Trung Quốc (TQ) ngày 19-1-1974 đã được viết nhiều rồi.

 Bài nầy chỉ xin trình bày vài khía cạnh về hoàn cảnh xảy ra cuộc hải chiến, nguyên nhân đưa đến cuộc hải chiến và phản ứng sau cuộc hải chiến.
1- HOÀN CẢNH XẢY RA CUỘC HẢI CHIẾN

Cuộc hải chiến Hoàng Sa xảy ra mgày 19-1-1974, gần tròn một năm sau hiệp định Paris ngày 27-1-1973. Hiệp định Paris là một hiệp định ngưng bắn da beo, theo đó Hoa Kỳ rút quân khỏi Việt Nam, lấy lại tù binh Hoa Kỳ từ phía cộng sản (CS), trong khi lực lượng Bắc Việt Nam (BVN) vẫn đóng quân tại chỗ ở Nam Việt Nam (NVN). Sau hiệp định Paris, nhiều biến chuyển dồn dập xảy ra:
    Tuy đặt bút ký hiệp định Paris nhưng chính phủ VNCH vẫn giữ lập trường “bốn không” đã được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đưa ra từ năm 1971,
  nghĩa là 
     không liên hiệp,
    không cắt đất,
    không hòa giải,
    không chấp nhận CS.

Monday, December 17, 2012

Sự thật phũ phàng về Hiệp định Paris 1973

    Ngày 27-1-2013 sắp đến sẽ đánh dấu 40 năm ký kết Hiệp Định Paris 1973, một biến cố lịch sử vô cùng quan trọng đối với Việt Nam vì những hậu quả của nó áp đặt trên mảnh đất này trong gần bốn thập niên cho tới ngày nay.

Ảnh tư liệu
            Hiệp Định Paris 1973 được thỏa hiệp tại Bắc Kinh, chứ không phải tại Paris. Từ trái: Cố Vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger, Thủ Tướng Chu Ân Lai, và Chủ Tịch Mao Trạch Đông, Bắc Kinh, 1972.
Thay vì đưa đến “hòa bình trong danh dự”, hiệp định này mở đường cho CSVN xâm chiếm trọn vẹn miền Nam Việt Nam trong vòng hơn hai năm sau. Những tài liệu về chiến tranh Việt Nam được bạch hóa trong thời gian gần đây cho thấy những sự thật phũ phàng đã đưa đến Hiệp Định Paris 1973.

  Tóm tắt diễn tiến Hiệp Định Paris 1973

      Cuộc hòa đàm tại Paris bắt đầu từ 1968 vào cuối thời Tổng thống Lyndon Johnson và tiếp tục dưới thời Tổng Thống Richard Nixon nhưng không đạt được tiến bộ nào cả cho đến cuối nhiệm kỳ I của Ông Nixon khi Ông Henry Kissinger, Cố Vấn An Ninh Quốc Gia của Tổng Thống Nixon đạt được một số đồng thuận trong những phiên họp bí mật với Ông Lê Đức Thọ, Trưởng Phái Đoàn Thương Thuyết của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) và trong cuộc tiếp súc bí mật với các Ông Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai tại Bắc Kinh.  Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu không đồng ý những điều kiện do CSBV đưa ra và đòi hỏi nhiều thay đổi. Hà Nội phản ứng bằng cách công bố chi tiết về những điều hai Ông Kissinger và Lê Đức Thọ đã đồng ý. Cuộc hòa đàm trở nên bế tắc. Một mặt Ông Nixon ra lệnh ném bom Hà Nội và Hải Phòng liên tục trong 12 ngày vào cuối năm 1972. Mặt khác, Chính quyền Hoa Kỳ áp lực VNCH chấp nhận điều kiện ngưng chiến.
Ngày 23-1-1973, hai Ông Lê Đức Thọ và Kissinger đồng ý về một thỏa hiệp sơ bộ. Bốn ngày sau đó, Hiệp Định Paris được chính thức ký kết vào 27-1-1973. Hiệp Định này đòi hỏi ngưng bắn toàn diện tại miền Nam Việt Nam, Hoa Kỳ rút hết số quân còn lại tại Việt Nam trong vòng 60 ngày, quân CSBV (khoảng 150,000 binh sĩ) được phép ở lại miền Nam Việt Nam tại những vùng CSBV đã chiếm đoạt, và tất cả tù binh Hoa Kỳ được hồi hương. Hiệp Định Paris cũng kêu gọi Chính Phủ VNCH và Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam thực hiện một cuộc bầu cử dân chủ và tự do tại miền Nam Việt Nam để chấm dứt cuộc xung đột. Tổng Thống Nixon hứa sẽ sử dụng Không Lực Hoa Kỳ để bảo đảm sự thi hành hiệp định này.

Sunday, December 16, 2012

Năm 1973, miền Nam mạnh hơn miền Bắc



Cổ thành Quảng Trị, 1972

           Tổng   thống Nixon nói (No More Vietnams trang 170) sau ngày ký Hiệp định Paris 27-1-1973 miền Nam mạnh hơn miền Bắc về mặt quân sự. Đầu năm 1973, sau khi Hoa Kỳ rút quân về nước, VNCH rất mạnh về quân sự. Cuộc oanh tạc của Mỹ chấm dứt cùng với  ngưng bắn. CSBV vẫn còn đóng ở một số nơi họ chiếm được trong cuộc tấn công 1972 khiến cho việc phòng thủ của miền Nam thêm phức tạp tuy nhiên tại đó lực lượng của họ rất yếu sau khi bị thảm bại, BV không lợi dụng được cơ hội.
              Cũng theo ông, tháng giêng 1973 cán quân quân sự thuận lợi cho miền Nam: trên 450 ngàn quân chính qui trong đó một nửa là tác chiến, một nửa là yểm trợ, Không quân có 54 ngàn người,  Hải quân 42 ngàn người, Địa phương quân 325 ngàn người, Nghĩa quân 200 ngàn. Bắc việt có vào khoảng từ 500 cho tới 600 ngàn quân trong đó 290 ngàn đóng ở miền Bắc, 70 ngàn ở Lào, 25 ngàn ở Miên, chỉ vào khoảng 148 ngàn ở miền Nam Việt Nam.
Hoa kỳ đã làm nghiêng cán cân về phía VNCH bằng sự cung cấp ồ ạt cuối năm 1972 qua hai chiến dịch lấy  mật danh  là Enhance (Gia tăng ) và Enhance Plus (Gia tăng Cộng) để thay thế những vũ khí, quân cụ bị mất hoặc sử dụng trong trận mùa hè đỏ lửa 1972, cũng là để cải tiến khả năng  tác chiến của miền Nam trước khi Hiệp định ngưng bắn chỉ giới hạn cho viện trợ trên căn bản một đổi một.
           

Thursday, December 13, 2012

"“Bên thắng cuộc” là cuốn sách đang gây sôi nổi cho cư dân mạng cả trong và ngoài nuớc. "


“Bên thắng cuộc” là cuốn sách đang gây sôi nổi cho cư dân mạng cả trong và ngoài nuớc. Quyển sách được viết bởi nhà báo Huy Đức, người nổi tiếng với trang blog Osin với những bài chính luận độc đáo có số người đọc rất cao.

Photo courtesy of Osinbook Bìa sách "Bên Thắng Cuộc".

Amazon phát hành chính thức

Sau ba năm mài miệt, “Bên Thắng Cuộc” chính thức ra đời vào ngày 12 tháng 12 vừa qua với hai cách: sách in do chính tác giả xuất bản và sách điện tử do Amazon phát hành dưới hình thức Kindle.
Có lẽ đây là lần đầu tiên một nhà văn Việt Nam có lượng sách bán trên hệ thống Amazon qua hình thức sách điện tử. Sự đột phá này có ý nghĩa quan trọng cho những ngòi viết đang bị cho là có vấn đề tại Việt Nam, từ nay họ có thể lập ra kế hoạch cho cuốn sách sắp tới phát hành một cách rộng khắp nhưng lại không hề bị lưỡi kéo kiểm duyệt gây rắc rối. Huy Đức là nguời đầu tiên và chắc chắn không phải là cuối cùng tận dụng lợi thế khoa học kỹ thuật này.
“Bên thắng cuộc” vừa ra đời một ngày đã tạo tiếng vang lớn khi nhiều tiếng nói uy tín giới thiệu nó một cách trân trọng, trong đó có bài viết của Giáo sư Trần Hữu Dũng, hiện giảng dạy tại đại học Wright thuộc tiểu bang Ohio Hoa Kỳ. GS Dũng cũng là chủ website Viet-Studies có luợng người vào xem rất lớn. Chia sẻ với chúng tôi về cuốn sách ông cho biết:

Hãy xem cuốn sách này như một nguồn tài liệu vì vậy nó rất tốt chứ không phải một cuốn viết về sử theo như cách hàn lâm. GS Trần Hữu Dũng

Wednesday, October 10, 2012

Mơ Ngô Đình Diệm qua “Sự Thật Về Hồ Chí Minh”

Do chịu tác động của chiến tranh thế giới bởi các cường quốc. Dải đất bé nhỏ Việt Nam bị cắt làm đôi, phải trầm luân trải dài qua một cuộc chiến ý thức hệ, mà hậu quả của sự bất tương đồng về hệ ý thức này vẫn mãi kéo dài đến ngày nay. Dù rằng, hơi nóng của chiến tranh đã bị đẩy xa, nhưng thân phận và ước mơ của  người Việt Nam vẫn còn vàng vọt.!
Chiêm nghiệm về cuộc chiến đã qua cũng như liên hệ với hiện tình chính trị của Việt Nam, có thể nói, giấy bút ghi thành sử liệu được chất cao như  núi Hoàng Liên Sơn, hay ghép dài như dòng Cửu Long. Nhưng nổi trội lên trong muôn triệu ngôn từ  viết về lịch sử cận đại, thì hình ảnh lãnh tụ của hai miền Nam- Bắc được nhắc đến nhiều nhất. Đó là hai nhân vật lịch sử: ông Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm.

Tuesday, October 9, 2012

Thất bại lớn nhất của Kissinger...đưa Dân Việt khốn khổ đến ngày hôm nay ..

Thất bại lớn nhất của Kissinger


Bốn mươi năm trước đây, bản Sơ thảo Hiệp định Paris thành hình vào thượng tuần tháng 10/1972, đánh dấu khúc quành quan trọng của cuộc hòa đàm.
Những ngày bế tắc.
Nixon nhậm chức Tổng thống đầu năm 1969, mấy tháng sau Henry Kissinger được giao nhiệm vụ thương thuyết với phái đoàn Cộng sản Việt Nam tại cuộc hòa đàm Paris. Việc thương thuyết thực sự do mật đàm giữa Kissinger và Lê đức Thọ, hội nghị luôn bị bế tắc vì những đòi hỏi của Bắc Việt rất quá đáng. Sau này TT Nixon cho biết (No More Vietnams trang 152) phía BV đưa ra những điều kiện tiên quyết: Đòi Mỹ rút đơn quân phương, loại bỏ chế độ Thiệu, lập chính phủ Liên hiệp tại miền nam VN, Mỹ phải cắt viện trợ quân sự kinh tế VNCH. Nếu thỏa mãn những điều kiện này coi như Nixon và Kissinger phải đầu hàng Cộng Sản không điều kiện.
    Tại sao BV chỉ là một nước nhược tiểu và lạc hậu lại có thể đòi hỏi ngang ngược với một siêu cường như vậy? 

Tuesday, July 24, 2012

BẮC VIỆT “XÂM LƯỢC” HAY GIẢI PHÓNG “NÚP”

       “…Nếu đừng có Tháng Tư Đen tàn nhẫn
Người trả thù người thâm độc dã man
Thì dân Việt, đời sẽ không lận đận
Bản Giốc vẫn còn, còn cả Nam Quan ! ….”
Thơ Ngô Minh Hằng
  • ‘GIẢI PHÓNG’ LÀ GÌ? TẠI SAO ?
THÁNG 4 ĐEN” AI GIẢI PHÓNG AI?
Trước đây cũng đã có một số nhận định về chữ Giải Phóng, tuy nhiên với dụng ý hạn hẹp của bài viết, “giải phóng” được hiểu nghĩa như một động cơ thúc đẩy, có mục đích chấm dứt hay thay đổi cái “cũ, xấu” bằng cái “mới, tốt hơn”.
Cụ thể hơn nữa, “Giải phóng” là một sự kiện nhắm can thiệp, giải thoát cho một thực thể (một tập thể bị động, yếu thế), tức đối tượng đang bị cai trị, đang bị đàn áp do bởi một cá nhân hay một nhóm người. Phía đàn áp (tức đối tượng chủ động) thường “núp” sau một chính sách và những quy luật, được tự sáng lập để tự diễn; Hơn nữa, một hệ thống võ trang hùng hậu còn được tổ chức, gồm cả quân đội, cảnh sát và các toán đặc biệt để tự bảo vệ lấy quyền lợi cá nhân thuộc phe nhóm thống trị.
Kết quả sau khi được đem đến từ một cuộc giải phóng, tất nhiên phải được đa số tán thành, đón nhận; Đồng thời còn phải phù hợp với lẽ công bằng, bác ái; Tạo nên tình trạng an sinh xã hội tốt đẹp hơn. Vì thế một cuộc giải phóng, theo đúng nghĩa, sẽ đem lại phúc lợi cho một tập thể, lớp người bị cai trị; Từng phải trãi qua một thời kỳ mất tự do, bị đàn áp và ngược đãi.
Để hiểu rõ nghĩa của từ ngữ “Giải phóng”; tưởng cần lấy thêm thí dụ về cuộc “Cách Mạng Hoa Lài” (CMHL); Hoa Lài là biểu tượng của một số các cuộc giải phóng vừa xẩy ra vào đầu năm 2011 thuộc vùng Bắc Phi Châu; Theo đó người dân bản xứ được “giải thoát” khỏi chế độ cai trị độc tài, tham nhũng, áp bức; đã diễn ra ở một số các nước, như Tunisie (với nhà cầm quyền Ben Ali); Ai cập (với Mubarak); Yemen (với Saleh); Syria (với Bachar el-Assad); tới Lybie,  v..v… Kết cuộc nhóm cầm quyền độc tài, tham nhũng, bóc lột đàn áp người dân, trong suốt tù 3 đến 4 thập kỳ, sau cùng đã bị đưa ra xét xử trước Công lý.
Nhờ có phong trào vùng lên, tự giải phóng, được biểu hiện qua diễn tiến CMHL, tình trạng Xã-hội và Chinh-trị tại một số quốc gia nêu trên tại Bắc Phi, trở nên sáng sủa hơn. Người dân, trước kia là những kẻ bị trị, cuôc sống khổ ải dưới áp lực bởi những kẻ nắm quyền cai trị, tàn ác, vô nhân; Nay được “giải phóng”, dân chúng có quyền tham gia trực tiếp, hoặc gián tiếp lựa chọn người đại diện trong chính quyền mới, thuộc thể chế tất nhiên là đối nghịch với “độc tài, tham nhũng” xẩy ra trước đó. Nhờ thế Tunisia, Ai cập v..v.. đã kịp thời hội nhập với các quốc gia tự-do trên thế giới, trong kế hoạch phát triển về cả kinh tế lẫn chính trị.
Một thí dụ khác, không kém phần quan trọng và rất cụ thể, giúp ‘nhân dân’ được “Giải phóng” khỏi chế độ CS độc tài, đảng trị tại VN; Nhờ đó sớm chấm dứt vai trò độc quyền thống trị đất nước của ngụy quyền VC Hà-nội hiện nay. Đó là sư hiện diện của một tập đoàn ‘nhà nước’ ăn cắp, hối lộ; Che trở, bênh vực cho cán bộ thuộc cấp dùng vũ lực bóc lột ‘nhân dân’. Một tệ trạng “người bóc lột người” đã gây nên quốc nạn tham nhũng, kéo theo tình trạng xã hội ngày càng xuống thấp, hiện đã khiến trở thành tồi tệ. Khoảng cách giữa sự nghèo khổ (người không có nhà cửa) và giầu có (các đại gia, các bậc tỉ phú Đỏ) gia tăng mỗi ngày một nhanh chóng dưới chế độ Xã hội Chủ nghĩa VC hiện tại.
Ngụy quyền VC Hà-nội vi phạm Hiến pháp do chính chúng thiết lập, bất tuân pháp luật cũng do chính chúng làm ra và còn xử dụng.một Bộ Công an (CAND); trấn áp đồng bào, tùy tiện băt bớ, tra khảo, gây tử vong cho những người vô tội trong khi bị lưu giữ trái phép tại những đồn CAND. Nhóm thủ lãnh thuộc BCT VC, chủ yếu là bao che cho các cán bộ đảng viên, thành phần thuộc cấp cuồng tín, mù quáng, nhắm mắt thừa hành ‘lệnh trên’ để ‘quán triệt’ khẩu hiệu ‘có Đảng TA, thì mới có TA !!’.
Ngụy quyền VC Hà-nội dùng CAND để củng cố chế độ; bằng cách tiếp tay dọa nạt, uy hiếp đồng bào qua mọi thủ đoạn vô nhân đạo, khốn nạn, như: đòi hối lộ, phá nhà,  cướp đất, ruộng vườn của dân chúng; Kể cả một số bất động sản thuộc các tổ chức hội đoàn tôn giáo địa phương v..v.
  • CS BẮC VIỆT “XÂM LƯỢC”  MIỀN NAM !
CÁC *BẰNG CHỨNG* KHÔNG THỂ CHỐI CÃI  
Lùi lại gần 40 năm về trước,  sau ngày ký kết Hiệp ước Hòa đàm Ba-lê 27-1-73; Cuộc chiến kéo dài suốt 19 năm trời tại miền nam Việt nam (54-73). Nếu không có gì xẩy ra, trên nguyên tắc, “chiến tranh” sẽ được chấm dứt vào thời điểm này.
Tuy nhiên khi nền Hòa bình được coi như vãn hồi, trên thực tế lúc đó lại đã xẩy ra một cuộc chiến tranh mới, và đặc biệt là chỉ xuất hiện tại miền đất phía nam Vĩ tuyến 17 mà thôi! (tức phần lãnh thổ của VNCH). Quan sát viên của Ủy Ban Điều hợp Bốn Bên (ICCS= kiểm soát đình chiến) đã ghi nhận được vô số những vi phạm gồm những cuộc pháo kích, phá hoại và tấn công của lực lượng CS Bắc việt; Đã lại xẩy ra giống như trước kia.
Một số chi tiết ghi nhận sau đây là “BẰNG CHỨNG” cụ thể và đầy đủ để tố cáo trước công luận thế giới cho cuộc xâm lăng VNCH của phe Lê Duẩn và tập đoàn CS Bắc việt.
Sau đây là vài đoạn được trích đăng trong một tài liệu, loại sách Niên giám, ghi nhận về Chiến Tranh ViệtNam(2):
* 27-1-73, là ngày ký kết Hiệp định Hòa đàm Ba-lê của tất cả thành viên thuộc 4 phe, sau hơn 4 năm trời thảo luận và bàn cãi (từ năm 69 đến 27-1-73).
Cuộc ngưng bắn tại chỗ tức khắc được áp dụng. Tuy nhiên riêng điều khoản rút hết các lực lượng tham chiến khỏi VN, thực tế chỉ được áp dụng cho Hoà-kỳ và các nước đồng minh (Canada, Úc, Phi luật Tân, Đại hàn.v..v);
Vì thế trong khi Mỹ và đồng minh rút quân khỏi lãnh thổ VNCH; thì lúc đó vẫn còn thấy một lực lượng gần 300,000 lính CS Bắc việt (3) đang hiện diện tại miền nam Vĩ tuyến 17. Lực lượng này của cộng quân, đáng nhẽ cũng phải rút ra khỏi VNCH sau ngày ngưng bắn, như đã từng được thảo luận. Nhưng không may, vì bị áp lực do ảnh hưởng của nội tình chính trị tại Thủ đô Hoa thịnh Đốn, cộng thêm những khúc mắc khác đặc biệt liên quan đến vấn đề tù binh Mỹ…Thành thử điều khoản “buộc ngụy quyền VC Hà-nội phải rút hết bộ đội chính quy về phía bắc vĩ-tuyến 17”, đã bị Lê đức Thọ, Xuân Thủy …(đại diện phe VC) và chính Kissinger (phiá Hoà-kỳ) bỏ qua một cách bí mật; mờ ám; Cho nên không hề thấy ghi nhận trong văn bản chung quyết của Hiệp định thư, tức bản văn chính thức dùng để ký kết.
Vào ngày kết thúc Hiệp định Ba-lê (27-1-73), đặc biệt về khía cạnh quân sự, những tin tức đã ghi nhận được như sau (2):
– Theo phần thống kê được xác nhận, chính phủ của TT Nguyễn văn Thiệu (73), kiểm soát hơn 75% lãnh thổ bao gồm 85% tổng số dân chúng tại miền nam.
Ngoài ra, sau ngày ngừng bắn, quân đội VNCH hiện trong điều kiện trang bị đầy đủ và tiếp tục nhận viện trợ Hoa kỳ. Đặc biệt về Không Quân, sự tổ chức và khả năng tác chiến của Không lực VNCH lúc đó (1973) được xếp vào hàng thứ tư trên thế giới.
Các hoạt động quân sự của cộng quân xẩy ra ở miền nam lúc đó, chứng tỏ sự vi phạm trắng trợn Hiệp ước Hoà đàm Ba-lê 73. Hơn nữa còn tự tố cáo trước dư luận quốc tế âm mưu xâm lược miền nam VNCH của Lê Duẩn và ngụy quyền VC Hà-nội :
1/-: Theo Hồ sơ giải mật của Hoa kỳ, Ngoại trưởng Mỹ Kissinger mới đây tố cáo phe đã từng ngồi thương thuyết với ông ta là: “Mỹ muốn thoả hiệp (nhưng) Hà-Nội muốn chiến thắng” (4).
Nội trong năm (1973), tập đoàn CS Bắc việt gồm Lê-Duẩn (Tổng bí thư) và Phạm văn Đồng (Thủ tướng) vẫn tiếp tục van xin thêm “viện trợ quân sự” từ hai nước Cộng sản đàn anh; Nhưng đã bị cả Nga sô lẫn Trung cộng thẳng thắn từ chối.
2/- Đúng 7 tháng sau (24-8-73), khi Hoa bình được vãn hồi; Nguồn tin tình báo tiết lộ chi tiết sau đây:
CS Bắc việt đã lén lút di chuyển thêm 70, 000 lính, 400 xe tăng thiết giáp, 200 cỗ pháo (tối thiểu), 15 cỗ đại bác phòng không. Đồng thời hoàn thành 12 sân bay, cộng thêm một đường tiếp tế, giao thông được thiết lập có thể chạy thẳng từ miền bắc vào đến Tỉnh Tây Ninh (VNCH).
3/- Một năm sau ngày Hiệp định Ba-lê được công bố, kết quả dựa trên số tổn thương về nhân mạng của đôi bên, đã chứng tỏ các cuộc giao tranh ở mức cao độ vẫn còn được phe CS Bắc việt chủ động, tiếp tục gây tang tóc tại miền nam VN:
(a) VNCH: Số tử vong: 1/- binh sĩ 13, 788; 2/- thường dân: 2159.
(b) CS Bắc việt và MTGP: 45, 057 thương vong (gồm binh lính và.thường dân)
Đó là kết quả phải trả giá cho cái lý do “Hà Nội muốn chiến thắng”!! chứ không hề muốn Hòa đàm, như Kissinger đã tiết lộ (ghi nhận trong đoạn dẫn chứng nêu trên).
4/- Khoảng ba (03) tháng (25-1-75) trước Tháng 4 Đen, tức trước ngày Thủ đô Sàigòn bị cưỡng chiếm; Tổng thống Hoa kỳ G. Ford cho biết, vào thời kỳ đó tại miền nam VN hiên đang có 289, 000 quân lính CS Bắc việt cùng hàng trăm thiết giáp, đại pháo lẫn súng phòng không…
Qua các diễn tiến vừa nêu, chứng tỏ trong thời kỳ thương thuyềt, VNCH gặp phải bất lợi vì sự phản bội (do nội tình chính trị) của đồng minh; Vì thế nguồn tài trợ bị cắt giảm, dưa đến sự chấm dứt hỗ trợ quân viện từ Hoa kỳ. Trong khi đó phe CS Bắc việt vẫn tiếp tục được “bơm” đầy đủ quân viện từ Nga sô, Trung cộng và khối CS quốc tế.
Hơn nữa, căn cứ vào cách đối thoại, mặc cả gian xảo của Lê đức Thọ, phía CS Bắc việt, đã để lộ mưu đồ “xâm lăng miền nam” không thể chối cãi, được hoạch định từ thời kỳ Hồ chí Minh; Thì nay lại do đám hậu duệ đem ra thi hành,  gồm: Duẩn, Chinh, Đồng, Thọ, Giáp..v…v,  và đồng bọn CS Bắc việt.
Đó là lý do đã khiến các quan sát viên quốc tế tiên đoán được sự xụp đổ nhanh chóng, không thể tránh khỏi, của nền Đệ Nhị Cộng Hoà tại miền nam vào thời kỳ “hậu” Hiệp định Hòa Đàm năm 73, trong đó có phe CS Bắc việt vừa đặt bút ký và vết mực vẫn còn chưa kịp ráo !!!.
  •  (VC) GIẢI PHÓNG = XÂM LƯỢC + ĂN CƯỚP !!   
Đúng như dư luận đã có dịp ghi nhận, biến cố 30-4 tức “Tháng 4 Đen”, được dẫn chứng bằng hình ảnh một chiếc xe tăng do Nga sô viện trợ, được ‘lính bác hồ’ điều khiển, có cắm cờ Mặt trận Giải phóng (mang ngôi sao vàng trên nền cờ nửa đỏ nửa xanh); hung hãn húc xập một bên cổng để vào chiếm cứ Dinh Độc Lập, một nơi được coi là biểu tượng, tập trung quyền lực tối cao của nền Đệ Nhị Cộng Hờa miền nam VN.
Điều xẩy ra đã được ngầm hiểu, sự hiện diện của một thể chế Tự do, Dân chủ đối nghịch với Cộng sản, đã bị cáo chung kể từ sau cái giờ phút đó !!
A/. XÂM LƯỢC: VC ‘NÚP’ DƯỚI CHIÊU BÀI “THỐNG NHẤT” (1)
Sáng ngày 30-4, thời gian 36 năm về trước, những tên bộ đội với số tuổi hầu hết từ 15 đến 16, mặt mày non choẹt, tay ôm súng AK, được ‘bác hồ và đảng’ chòng vào cổ cho một tội danh ‘Sinh bắc, Tử nam’’. Từng tốp lội bộ hoặc ngồi chen chúc trên mấy chiếc xe tăng, hoặc loại xe vận tải do Nga viện trợ. Đám ‘chiến sĩ anh hùng’ này vừa mới được di chuyển về vùng đô thị, hết thẩy đều còn ngơ ngáo bởi lần đầu tiên trong đời được nhìn thấy một thành phố phồn thịnh, ‘hoành tráng’, mang tên “Sàigòn, Hòn ngọc của Viễn Đông” !.
Đám thiếu niên “cháu ngoan bác hồ”, được trang bị súng AK, vừa hoàn tất xong cuộc “giải phóng miền nam”. Một cuộc ‘giải phóng ảo’ vẫn được học tập trong chốn rừng xâu hàng ngày từ các đồng chí Chính ủy của đơn vị; Nhắm nhồi sọ, tác động tinh thần, trước khi đám thiếu niên miền Bắc bị buộc phải lao mình vào một trận chiến tranh mới, khốc liệt, không kém mức độ đẫm máu và tương tàn; Lập tức xẩy ra sau ngày Hòa bình vừa mới vãn hồi trên quê hương đất nước.
Những đơn vị cộng quân được dịp đặt chân vào Sàigòn, theo lối ngụy ngôn của Võ văn Sung, một trong những tên cán bộ VC thâm niên, thuộc phe thương thuyết của Hiệp ước Hòa đàm Ba-lê 73; Đấy là:
– “Đơn vị ‘quân giải phóng’ tiến vào Sàigòn đầu tiên đã bắt buộc (Tổng thống VNCH) ông Dương văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện…”
Nhưng sau khi thôn tính được xong miền nam; một “cuộc chiến” kéo dài 2 năm + 3 tháng, không hề có một người lính ‘Mĩ’, mà chỉ còn người Việt nam ‘mình với ta’; Cũng chính tên Sung đã vẫn láo khoét tuyên bố cái ngày:
– “30-4-75 là ngày lịch sử, ‘chống Mĩ xâm lược’ ”.
Thực chất ngày 30-4-75 có nghĩa là ngày Giải Phóng “NÚP” hay Giải Phóng “ẢO” của Lê Duẩn và đồng bọn CS miền Bắc (!)
                           Được biết, Bộ Chính trị VC Ba-đình và Lê Duẩn, sau khi ‘NÚP’ kín dưới bóng cờ MTGP, xua ‘lính bác hồ’ vào cưỡng chiếm Thủ đô Sàigòn nhằm che dấu mưu gian xâm lược VNCH của chúng;
     Chỉ sau một thời gian ngắn, lá cờ của Mặt Trận Giải Phóng (được treo trên nóc Dinh Độc Lập vào ngày đầu tiên để ngụy trang), tức thì đã được phe CS Bắc việt giật xuống, cho thay thế bằng ‘cờ máu với sao vàng’ (lá cờ Đảng của Việt minh). Thái độ này, chứng tỏ ngụy quyền VC Hà-nội và MTGP có sự tranh công lẫn nhau!
               Việc Tướng Văn tiến Dũng nói với LS Trương như Tảng, một Bộ trưởng (Tư pháp) trong Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền nam, rằng “Đã có sự hợp nhất trong Quân đội ! (Nhân dân)” (5);
    Chỉ là một lối ngụy biện che đậy sự dối trá và lòng phản bội, một trong những giáo điều căn bản của Hồ chí Minh đã dạy cho đám hậu duệ Việt minh,Cộng sản sau này.
    Văn tiến Dũng được lệnh ngụy che cuộc tranh công ‘nội bộ’ đảng (giữa các thành phần gồm CS Bắc việt, BCH Trung ương Cục miền nam, MTGP v..v).
Được biết, VM/CS do Hồ chí Minh thành lập, trong quá khứ cũng đã tổ chức những vụ thanh trừng, bắt bớ, bỏ tù, thủ tiêu đẫm máu giữa bọn ‘đồng chí, đồng rận’ với nhau. Đó là giai đoạn đầu được coi là khởi sự cho chính sách kỳ thị Nam, Bắc. Sau này đã được triệt để áp dụng vào đường lối “bầu chọn nhân sự” trong nội bộ đảng của ngụy quyền VC Hà-nội.
Hai ngày sau (2-5-75), cũng tại dinh Độc Lập (cũ) tên Trần Văn Trà (Tướng VC, Chủ tịch Ủy Ban Quân quản Sàigòn-Chợ lớn) đã ngụy tạo phát biểu, bằng cách lập lại những lời tung hô, tuyên truyền, mà dân chúng Thủ đô đã được nghe ra rả từ các loa phóng thanh trước đó:
Đối với chúng ta, không có kẻ thua, người thắng mà chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta thắng Mỹ !”.
Vào thời điểm 30-4, thái độ huênh hoang của những ‘kẻ chiến thắng’, không chỉ được văng ra từ cửa miệng những tên cán bộ nồng cốt VC có nhiều tuổi đảng; Mà còn ở cả thành phần cán ngố ‘sinh Bắc tử Nam’; sau những ngày tháng lặn lội Truờng sơn Đông, Truờng sơn Tây, may mắn thoát chết trong chiến trường B, được dịp tiến vào thành phố “phồn vinh” của miền nam; cũng đã thốt ra những lời lẽ hung hăng, sặc mùi đấu tranh, sắt máu!
Vì thế, sau ngày 30-4, người dân miền nam và cả nước vẫn không thể nào quên một số những tuyên bố, phát biểu cực đoan, hạ cấp của vài tên VC tự xưng có 4, 5 chục tuổi đảng. Loại ngôn từ của kẻ “vô học, bất nhân, thất đức” chứng tỏ chúng được ‘học tập tốt và quán triệt tốt’ tấm gương ‘đạo đứt bác hồ’ của chúng:
* Phạm văn Đồng (cựu Thủ tướng ngụy quyền VC Hà-nội) ám chỉ tập thể những người miền nam di tản vào dịp 30-4-75, qua lời tuyên bố:
–“ Bọn phản động, đồ đĩ điếm, cút ra khỏi nước theo đế quốc Mĩ ”.
* Nguyễn Hộ, một tên cán bộ kỳ cựu của MTGP VC, bị coi là “xúc vật” vì lối tuyên bố thất học và ‘cực kì’ khốn nạn của hắn sau đây:
–” Nhà (của Ngụy) chúng ta ở, Vợ (của Ngụy) chúng ta lấy, Con (của Ngụy) chúng ta bắt làm nô lệ”.
(Phần trong ngoặc do người viét tự ghi chú thêm)
………
Ngược lại, cũng còn thấy xuất hiện tiếp theo một vài nhận định hoặc cảm nghĩ, tương đối còn giữ được nhân tính, có đôi chút đúng đắn về ngày 30-4, tức NGÀY GIẢI PHÓNG “NÚP” của ngụy quyền VC Hà-nội.
Sau đây là một số các trích đoạn:
1/- Cảm nghĩ của giới thanh niên (học sinh, sinh viên) miền Bắc:
–“ Chúng tôi đã được học tập dưới hệ thống nhà trường xã hội chủ nghĩa (XHCN) về lý do tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam qua những cụm từ như: – “chế độ khát máu
Mỹ-Diệm”, – ”miền Nam bị Mỹ, Nguỵ kìm kẹp”, – “đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào”, – “ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ”, – “giải phóng miền Nam” v…v…
..”Nhưng ngày nay, với sự phổ biến của công nghệ thông tin, chúng tôi đã hiểu biết
nhiều hơn trước. Về lý do tại sao đã có và do ai gây ra cuộc chiến Việt Nam
1954-1975, hoàn toàn không phải như chúng tôi đã được tuyên truyền học tập trong nhà trường. “ (X)

2/- Tâm sự của một nữ chiến binh ‘bộ đội bác hồ’, Dương thu Hương đã thổ lộ, khi theo đoàn quân tiến vào đến Thủ đô Sàigòn, bà bị choáng ngợp với sự văn minh, phồn vinh mà CS Bắc việt gọi là “phồn vinh gỉa tạo”. Bà DT Hương đã ngồi bên vệ đường khóc cho ngày ‘giải phóng miền Namthay vì nơi cần được giải phóng phải là miền Bắc, Bà nhận:
–“..Nhưng sau cuộc giải phóng thì tôi nghĩ tôi đã hoàn toàn sai lầm vì đây là một cuộc nội chiến, và đây là một cuộc chiến giữa hai ý thức hệ và cái phần chiến thắng nó lại mang tính man rợ, tại vì dẫu gì đi nữa thì cái mô hình tư bản chủ nghĩa vẫn khá hơn.” (Việt Tide số 23 ngày 21-12-2001)
3/- Nhận định tương tự về ngày 30-4 của một cựu Đại tá, cựu phó Tổng Biên tập tờ Báo Quân đội VC. người đã có dịp cư trú tại Thủ đô Sàigòn vào lúc Hiệp định Ba-Lê bắt đầu có hiệu lực; Ông ta còn có mặt trong Ủy ban Trao trả Tù binh; đã suy nghĩ về ngày 30-4 như thế nào? Sau đây là đoạn trích đăng:
–“Thất bại lớn nhất trong ngày 30-4-1975 là không thực hiện hòa hợp và hòa giải dân tộc, vì đảng Cộng sản Việt Nam đã «ăn quỵt» lời hứa danh dự hòa giải và hòa hợp dân tộc. Thay vào đó đảng Cộng sản đã thực hiện trên thực tế chính sách chiếm đóng miền Nam, trả thù Việt nam Cộng hòa bằng tù đầy trong hàng trăm trại tù thảm khốc mang tên ‘trại cải tạo’..” – (Theo “Bui Tin Blog” của Đài VOA)
–“ Ngay sau ngày 30/4/1975, tôi bị ”vỡ mộng”, khi thấy lãnh đạo ÐCS thi hành chính sách chiếm đóng chứ không phải giải phóng, họ bỏ chính sách hòa giải hòa hợp dân tộc mà họ từng hứa, bỏ tù hơn 200 ngàn sỹ quan, viên chức cũ, gây nên thảm họa ”thuyền nhân”, còn kiêu ngạo chiếm đóng Cambốt gần 10 năm (1979-1989), hy sinh thêm hơn 50 ngàn chiến sỹ một cách oan uổng !..” – (Tôn Vân Anh và Robert KRZYSZTON (Balan) Phỏng Vấn Bùi Tín – Trích từ Con Ong)
B/- ĂN CƯỚP = PHẢN BỘI + VƠ VÉT !
Sàigòn và Hà-nội là Thủ đô của hai miền đất nước biệt lập: VNCH và XHCN CS; Không những hai nước độc lập mà còn khác nhau về cả lối sống lẫn thể chế chính trị.
– Ngụy quyền CS Miền Bắc, rập khuôn theo chủ thuyết Cộng sản Mác-Lê của Nga sô và Trung cộng; triệt để áp dụng Vô sản Chuyên chính, chủ trương Đấu tranh Giai cấp và cổ võ chính sách Tam vô.
– Miền Nam, VNCH ngược lại, đương nhiên được tiếp nhận sự hỗ trợ của Thế giới Tự-do, áp dụng thể chế Tự do Dân chủ và tôn trọng Nhân quyền.
(a) Chính phủ Sàigòn áp dụng nền kinh tế tự do. Người dân được tự do buôn bán để sinh sống, quyền tư hữu của dân được chính quyền tôn trọng, cộng thêm những quyền tự do căn bản giành riêng cho mỗi con người.
Nếu đem so sánh hai lối cấu trúc về chính trị và xã-hội, giữa hệ thống “Tư bản” và “Vô sản”; Miền Nam VNCH, tất nhiên tiến bộ hơn và giầu mạnh hơn gấp mấy chục lần so với một nước chủ trương chính sách ‘Vô sản chuyên chính’ và ‘Bần cùng hóa nhân dân’ như XHCN VC miền Bắc.
(b) Thi hành nghiêm chỉnh các điều khoản được nêu ra trong Hiệp định thư, Mỹ và Đồng minh, trong vòng 60 ngày, đã rút hết lực lượng còn lại, ra khỏi miền nam VNCH. Đồng thời việc trao trả tù binh đòi hỏi được hoàn tất tương đương với thời hạn rút quân.
Nói một cách chính xác, sau 2 tháng kể từ ngày ký kết bản Hiệp ước, tức 60 ngày sau, tức ngày 27-3-75, tại miền nam tuyệt đối không còn một đơn vị quân đội nào của Hoa-kỳ và đồng minh; Tức đúng vào thời điểm Lê-Duẩn và tập đoàn CS Bắc việt thực hiện cuộc xâm lược miền nam.
Vì thế nếu rêu rao là ‘Đánh Mĩ để Giải phóng miền nam’ (!) tức ngụy quyền VC Hà-nội đã tự thú cái tội “Dối trá” và “Phản bội’ mà chúng đã ưng thuận, tự tay ký kết trong bản Hiệp ước Hòa đàm Ba-lê năm 1973.
Cho nên “Nổ“ hay “bốc phét” theo lối tuyên truyền ba xạo kiểu ‘bác hồ‘; Như ngụy quyền VC Hà-nội; Như Trần văn Trà và như Võ văn Sung, nói rằng:
–“30-4-75 là ngày lịch sử, chống Mĩ xâm lược!” hay
–“..chỉ có dân tộc Việt Nam chúng ta thắng Mỹ !”
Cả hai tên, Sung và Trà cùng hết thẩy cả hệ thống Thông tin Tuyên vận của Bộ Chính trị lẫn Ban tuyên giáo VC đều láo khoét, gian manh như tên thủ lãnh Hồ chí Minh của chúng !!
  • PHẦN TẠM KẾT
        “Tháng 4 Đen”, tức ngày 30-4-75 vẫn là một dịp để mọi người dân tại miền Namlẫn cả ở hải ngoại ghi nhớ và cùng tưởng niệm như “Ngày Quốc Hận”.
             30-4 là một biến cố đen tối nhất của lịch sử Việt nam, bấy lâu nay bị ngụy quyền VC Hà-nội che dấu rất kỹ dưới chiêu bài “Giải phóng”; Vì thế người viết xin được gán thêm cho cái mỹ từ ‘hoành tráng’ tức Giải Phóng “NÚP”! Hay cũng còn gọi là Giải Phóng “ẢO”!.
            Phe CS Bắc việt lợi dụng ngụy ngữ “Hoà hợp, Hòa giải” trong nội dung tuyên truyền, nhằm vận động cuộc Hoà đàm tại Ba-lê năm 73.
    Chúng biết chắc, nếu dựa vào “ưu điểm” là lừa bịp và xảo trá sẵn có; Phe VC sẽ nắm được lợi thế cả về chính trị lẫn quân sự.
              Bằng chứng là với quân số khoảng vài chục Sư đoàn lính Chính quy được trang bị đầy đủ vũ khí của Nga sô, sau Hiệp ước Ba-lê ký kết, vẫn còn “Núp” ở lại miền Nam; Cho nên chỉ cần sau 2 năm + 3 tháng (75) là Lê Duẩn và tập đoàn CS Bắc việt đã hoàn tất cuộc chiến tranh “xâm lược”; Tuyệt nhiên không hề có ý nghĩa “giải phóng”, như ngụy quyền VC Hà-nội thường tự xưng, tự diễn và tự đánh bóng để tuyên truyền cho cái “Chính nghĩa” kiểu VC, trong lúc ngậm hơi lặn xâu, “NÚP” cho thật kỹ trong suốt 36 năm qua!
  •  MIỀN NAM VNCH KHÔNG HỀ BỊ NGOẠI BANG CAI TRỊ !
            (Từ 20-7-54 đến 30-4-75). MIỀNNAM VNCH  KHÔNG CẦN AI ĐÓ PHẢI VÀO ‘GIẢI PHÓNG’!
Thực chất của sự kiện “Giải Phóng”, do phần đinh nghỉa mở đầu, là một hành động có điều kiện. Vì thế, theo điều kiện ắt và đủ, sự giải phóng chỉ xẩy ra cho một hiện trạng “bất bình thường”; Tập thể dân chúng bị áp đặt dưới hệ thống cai trị độc tài, chuyên chế, áp bức kèm theo bạo hành. Số phận người dân do đó cần phải được giải thoát càng sớm càng tồt (giải phóng) khỏi cái chế độ cai trị phi nhân này.
               Ngược lại hành động “giải phóng” không cần thiết đối với một “xã hội bình thường”; Tức trong đó người dân có cuộc sống ấm no hạnh phúc, nhân quyền được tôn trọng, dưới một thể chế dân chủ, gồm Tam quyền phân lập. Tình trạng này là biểu tượng của miền nam VNCH trước ngày 30-4 năm 1975. Hơn nữa, nhắc lại phần thống kê đã ghi nhận, vào đầu năm 1973, chính phủ VNCH kiểm soát hơn 75% lãnh thổ bao gồm 85% tổng số dân chúng tại miền nam (2);
     Chứng tỏ tại miền nam, trong lãnh thổ trách nhiệm của VNCH, người dân từ thành thị đến nộng thôn, vẫn được sinh hoạt ở tình trạng bình thường; mặc dù vấn đề an ninh có phần suy giảm vì bị bọn Viêt cộng không ngừng khuấy rối, phá hoại và tấn công.
              Một nước tự-do, dân chủ như VNCH không thể bị xếp trong danh sách những đối tượng “cần phải được giải phóng” (!).
        Về mặt chính trị, ngược lại Miền Nam không hề bị đặt dưới sự cai trị của bất cứ một cuờng quốc nào,
      mặc dầu VNCH đã tiếp nhận viện trợ từ một số các nước tự do trên thế giới.
    Đặc biệt trong đó Hoa kỳ đã gửi sang VN thêm một số các đơn vị vũ trang đễ hỗ trợ và cố vấn cho phương diện quân sự
  Tại miền bắc, cũng tương tự, ngụy quyền VC Hà-nội nhận viện trợ của Nga sô, Trung cộng và các nước khác trong khối CS quốc tế;
    Tất nhiên cũng phải chấp nhận trên phần đất của nhà nước XHCN CS Bắc việt; sự hiện diện (khoảng chừng 320,000; theo Hong Kong Reuter) của binh lính và cố vấn của các đơn vị quân sự Nga sô và Trung cộng.
http://www.trantrungdao.com/?p=290)
               Chiến tranh Việt nam (54-75), do Hồ chí Minh phát động, với ý đồ xâm lăng miền nam và toàn cõi Đông dương; Giúp chủ nghĩa cộng sản bành chướng trên toàn cầu.
   Sẵn có tư tưởng và hành động của một “TÊN BÁN NƯỚC”; họ Hồ đã tự nguyện trung thành với các đấng đàn anh cộng sản Sô viết, Tầu cộng như sau:
(Trích đoạn):
Trong bài nói chuyện của Hố chí Minh đăng trên báo Nhân Dân, 20-7-1965,
–..“Các nước bạn chỉ mong chúng ta cố gắng làm cho nhân dân ta thắng lợi trong cuộc đấu tranh”…. “luôn hướng về Liên Xô, đất nước của Lênin vĩ đại và coi Liên Xô là Tổ quốc của cách mạng, Tổ quốc thứ hai của mình “ (7)… – (mình = tức CS miền Bắc VN)
(Ngưng trích)
Về tình hình kinh tế, nhận xét chung sau 1954 cuộc sống của ‘nhân dân’ miền bắc, đặc biệt nền ‘Kinh tế Bao cấp’, đã nhẫn tâm lôi kéo mức sống của ‘nhân dân’ dưới chế độ ‘Việt nam, Dân chủ, Cộng hòa, Độc lập-Tự do-Hạnh phúc’’ (sau đổi thành Xã Hội Chủ Nghĩa) bước thụt lùi trở lại, kém văn minh đến cả vài chục năm trời.
Trong lối so sánh giữa cảnh huống giầu và nghèo của hai nước, một cách lô-dích (logically), tạm thời có thể căn cứ vào sự chênh lệch về hối xuất (Kim bản vi); So sánh trị giá giữa tiền nội địa với đồng Mỹ kim:
– Năm 1973, trong thời kỳ có cuộc Hòa đàm Ba-lê:
- 1USDollar = 700 (?) đồng VNCH (Ngân Hàng Quốc gia VN). (6)
– Năm 2011 (sau 38 năm) Hối xuất của đồng “tiền giấy bác hồ” tại Việt nam như sau:
- 1USDollar = 21, 000 đồng ‘bác hồ’, XHCN VN.
Do con số chênh lệch về “trị giá tiền tệ” nêu trên, đưa đến kết luận là nền kinh tế của VC, trước kia là “Kinh Tế Bao cấp” (một loại KT lạc hậu, bóc lột khủng khiếp, vẫn còn như một cơn ác mộng đối với dân chúng miền Bắc cho tới ngày hôm nay).
                  Hậu quả thê thảm khiến nhà nước XHCN VC phải nhắm mắt thay đổi bằng chính sách ‘Cởi trói’,  thực hiện “KT Thị trường”, tiếp theo được gọi  “KT Thị trường Định hướng theo XHCN”, hay hiện tại được gọi là “KT Vĩ mô” (?. Hối xuất căn cứ vào tiền Dollar Mỹ dưới XHCN VC Hà-nội hiện nay (2011), chỉ bằng 1/30 giá trị (kim bản vị) của chính thể VNCH trong thời kỳ 38 năm về trước (1973) !!
Sự chênh lệch (về hối xuất) giữa hai thời kỳ kinh tế, trước và sau ngày ‘giải phóng’ (!) 30-4-75;
     Nếu đem so sánh với hiện tại, cho thấy rõ dân chúng miền nam có cuộc sống “tương đối an cư lạc nghiệp”, đặc biệt dưới thời Đệ Nhị Cộng Hòa.
           Do đó miền nam không cần một nước nghèo đói, lạc hậu, như nền “Kinh tế Bao cấp” của Cộng sản miền Bắc, phải vào “giải phóng” đất nước!
    Theo như lối tuyên truyền láo khoét, bịp bợm của ngụy quyền VC Hà-nội, vẫn lập đi lập lại vào ngày 30 Tháng 4 mỗi năm.
* * *
Sau khi Hiệp định Ba-lê kết thúc, 60 ngày sau, bắt đầu từ ngày 27-3-75 không hề còn một bóng dáng quân đội Mỹ hay bất cứ của nước nào khác, hiện diện tại miền nam Việt nam. Lúc đó, trong lãnh thổ của VNCH chỉ còn có “Ta” với “Ta”; Tức Quốc gia và Việt cộng, Tức người Việt với nhau mà thôi !
     Nhưng nếu vì ngu dốt, vẫn còn ngoan cố, say sưa, tiếp tục rêu rao: -‘Đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào!’, – giải thoát ‘Ách thống trị thực dân kiểu mới của Mỹ’, – hoặc ’Giải phóng miền nam, khỏi tay Mỹ Ngụy!’;
       Thì hết thẩy những “xảo ngữ hoành tráng” nêu trên, của giới “Đỉnh Cao Trí Tuệ Loài Người” gồm tập đoàn 3 triệu tên cán ngố thuộc ngụy quyền VC Hà-nội đều Láo Khoét và Sai Bét.
     Vì bọn chúng sẽ không bao giờ tìm được cách bào chữa chính đáng cho hành động khốn nạn của một Đảng Cướp chỉ biết dựa vào sự “Lừa lọc, Dối trá và Phản bội” để mong đươc tồn tại.
   Đúng như lời của Lê Duẩn, TBT đảng CSVN, tuyên bố cuộc chiến tranh xâm lược miền nam (VNCH); hắn và đồng bọn CS Bắc việt là đánh cho các nước đàn anh cộng sản, tức Liên Xô và Trung cộng!
            Để chấm dứt cho phần Tạm Kết, người viết, thêm một lần nữa dẫn chứng cảm nghĩ của một cựu Đảng Viên CS Bắc Việt; Nữ văn sĩ Dương Thu Hương khi vào đến Sàigòn, đã NGỒI BÊN Vệ ĐƯỜNG KHÓC CHO NGÀY “GIẢI PHÓNG MIỀN NAM” THAY VÌ NƠI CẦN ĐƯỢC GIẢI PHÓNG PHẢI LÀ MIỀN BẮC (!)
Thiện ngôn-Cư An, Tư Nguy
GHI CHÚ:
(1)- Nhân dịp đọc bài “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa NÚP” của tác gỉa Vũ Đông Hà (danlambao); đăng ngày 11/04/2011.
(2)- The Vietnam War – An Almanac; Nhà xuất bản: World Almanac Publication; (Trưởng ban Biên Tập: John S. Bowman-1985).
(3)-VietnamVoice- Perspectives On The War Years, 1941-1982; John Clark Pratt (Pg 555).
(4)- Henry Kissinger: “Americans want to compromise,” he said. “Hanoi wanted to win.” (Bởi AP – Thứ năm 30 Tháng Chín 2010)
(5)- Trích trong “Inside The VC And The NVA, The real story ofNorth   Vietnam’s armed forces- Page 285 (Tác giả: M. L. Lanning và D. Cragg)

(6)- Cám ơn quý vị nào còn nhớ hối xuất năm 1973, xin giúp ý kiến cho chính xác.
(7)- Sách “sự thật về quan hệ ViệtNam- Trung Quốc trong 30 năm qua” do NXV Sự thật phát hành năm 1979; Đàn Chim Viêt //