Showing posts with label Nhân chứng Lịch sử. Show all posts
Showing posts with label Nhân chứng Lịch sử. Show all posts

Tuesday, July 18, 2023

Tại sao chuyện gì cũng lôi Hồ Chí Minh ra mà chửi?

 Nếu không có Hồ Chí Minh thì chắc chắn đất nước đã không có những tên phản tặc như thế này, nếu đất nước không có những loài sâu đỉa, sài lang hổ báo thì dân tình đâu có mà thê thảm như hôm nay. 

Chúng tiếp tay rước voi dày mả tổ, chúng nối giáo cho giặc Tàu cướp Biển Đảo, đất liền dọc 6 tỉnh biên thùy, các điểm cao chiến lược, các điểm trọng yếu Tây Nguyên, các phố Tàu cùng khắp 3 miền của đất nước.

*

Trước khi đi tìm nguyên nhân Tại sao chuyện gì cũng lôi Hồ Chí Minh và Chủ nghĩa Cộng sản ra mà chửi thì mời bạn đọc qua những câu nhận định để đời của các nhân vật nổi tiếng: 

Sunday, June 26, 2016

Lịch sử không thể che đậy

Lịch sử dù thế nào cũng phải tôn trọng, mọi sự bóp méo che đậy cuối cùng vẫn phơi bày. Các người chửi phản động cứ chửi. Sự thật là bằng chứng rõ ràng không thể chối cãi.
So sánh 2 đồng tiền dưới đây:
 *Một tờ mang hình Trần Hưng Đạo (tiền Việt Nam Cộng Hòa), không có chữ Tàu cũng không có chữ Mỹ.
   * Một tờ mang hình " cụ Hồ"  chữ Tàu TC (tiền VNDCCH- Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa VN cũ).

Nói thật lòng, cái tờ tiền thứ 2 của VNDCCH nhìn cứ như tiền của Tàu. Tại sao lại như vậy?


vnch tien500 Chỉ 2 tờ tiền đó thôi chúng ta thấy được lý tưởng quan điểm vì dân tộc của 2 miền thế nào.

VNCH đã bán nước, lệ thuộc vào Mỹ hay là CSVN lệ thuộc, bán nước cho TC?

Câu hỏi này bạn tự trả lời nhé. Tui chỉ đưa ra bằng chứng khách quan chứ không kết luận.

Khanh Nguyen.

Sunday, December 6, 2015

40 năm sau - Lật lại hồ sơ 16 tấn vàng

  
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
      Câu chuyện 16 tấn vàng đã là một đề tài úp mở trong dư luận suốt gần bốn thập niên kể từ biến cố 30-4-1975, sau khi miền Nam VN rơi vào ách thống trị của chế độ CS Bắc Việt. Người hiểu biết sự việc thì ít, phần đông người dân cả hai miền Nam-Bắc chỉ biết mù mờ qua những tuyên bố của các giới chức đảng cộng sản, cho rằng Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã chở theo 16 tấn vàng trong ngân khố VNCH khi cùng gia đình đi ra khỏi nước ít ngày trước cuối tháng 4/75.

Wednesday, February 25, 2015

Hố chôn người ám ảnh

2015-02-24

tranducthach-1975
Bộ đội Trần Đức Thạch, ảnh chụp khoảng năm 1975-1976
Internet file

(Quý vị đừng quên nghe phần âm thanh)

Tuesday, January 15, 2013

Mậu Thân 1968: Kẻ đồ tể & Nhân chứng sống





      "Đã 40 năm qua, những vết thương đó vẫn còn tươi rói trong tôi. Nỗi đau mỗi ngày một đầy. Đó là những cái chết oan khiên trong muôn ngàn cái oan khiên của người dân Huế.

Tôi là người con duy nhất trong gia đình còn sống sót sau Tết Mậu Thân cũng như sau những ngày mất nước. Nay viết lại những cái chết thương tâm của những người Thân Yêu trong gia đình tôi với tư cách là một nhân chứng và nạn nhân, để tố cáo Tội Ác của Việt Gian Cộng Sản, có như thế, oan hồn của ông nội và anh em tôi mới có thể siêu thoát." - (Trích: bức thư của Nhân chứng hiện còn sống Nguyễn Thị Thái Hòa)

****
      Lời người đăng: Tôi không là người Huế cũng chẳng quen biết anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan, nhưng qua những tài liệu tôi sưu tầm được về họ trong sự kiện Mậu Thân 1968 ở Huế và sau khi đối chiếu, 

tôi nghĩ phải cho đăng bài này chỉ để chứng minh cùng cư dân mạng rằng hai anh em nhà Hoàng Phủ là hai tay bất nhất, nói láo. 

 Dám làm mà không dám chịu: công thì đã lãnh, tội thì vẫn chối quanh! Nếu họ có oán tôi thì tôi xin chịu, nhưng họ nên oán Internet thì đúng hơn! 


Hoàng Phủ Ngọc Phan: Tôi không hề giết ai 

[“Sau chiến dịch Mậu Thân báo chí ở Sài gòn thường nhắc đến anh em Hoàng Phủ Ngọc Tường và Hoàng Phủ Ngọc Phan như là hai tên đồ tể khát máu, giết người không gớm tay ở Huế. Sự thực anh Tường không hề về Huế mà ở lại trên căn cứ để làm nhiệm vụ tiếp đón các vị khách từ nội thành ra. Tánh anh Tường rất hiền, không ưa đụng đến vũ khí, dầu chỉ để lau chùi. Cơ quan cấp cho anh một khẩu súng ngắn K.59, anh không ngó ngàng gì tới đến nỗi súng han rỉ, rồi đem cho một người bạn nào đó mượn đi công tác. Người này làm mất súng khiến anh Tường bị phê bình – đúng ra đây là một khuyết điểm đáng phải bị xử kỷ luật nặng. Nhưng anh Tường không ý thức được điều đó. Anh cứ cãi khơi khơi là tại cơ quan giao súng cho anh chứ anh đâu có yêu cầu. Công tác của anh chỉ cần ngòi bút. Người như thế mà có thể giết ai được?”] (Hoàng Phủ Ngọc Phan). 

Hoàng Phủ Ngọc Phan khẳng định: “Sự thực anh Tường không hề về Huế mà ở lại trên căn cứ để làm nhiệm vụ tiếp đón các vị khách từ nội thành ra”? 

Sunday, December 16, 2012

Tớ- khán giả của 12 ngày đêm đánh nhau với B52- xin có ý kiến


Hai cô dân quân bên xác B52. Tháng 12/ 1972. Ảnh Google
Hai cô dân quân bên xác B52. Tháng 12/ 1972. Ảnh Google

         Mấy hôm nay, các phương tiện truyền thông lề đảng liên tục đăng bài, đưa hình ảnh, tổ chức cho các nhân chứng lịch sử phát biểu về cái «chiến dịch Điện Biên Phủ Trên Không» cách đây 40 năm!
Thôi thì đủ thứ tài tình của Đảng ta về chiến lược, chiến thuật, nào là về nghệ thuật quân sự, nào là 4 mũi giáp công để đánh thắng trận Điện Biên Phủ Trên không, nào là buộc Đế Quốc Mỹ và tay sai phải ngồi vào bàn hội nghị ký kết «Hiệp định Lập Laị Hòa Bình và Chấm dứt chiến Tranh ở Việt Nam», buộc quân Mỹ phải «rút lui nhục nhã», tạo điều kiện cho cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam đi đến thắng lợi hoàn toàn…
Chao ôi! Toàn những lời lẽ đã được viết trên sách vở báo chí của họ cả 40 năm qua! Một chứ mười thằng Mỹ mà gặp phải cái sự tài tình vô biên của «Bộ Chính Trị Đảng ta» thì cũng đi tiêu luôn!
Cho nên, hôm nay Đảng được quyền làm vua, muốn gì được nấy,bất khả xâm phạm là cái lẽ thường tình! Thằng nào phủ nhận cứ là chộp đi tù hết!
NHƯNG KHÔNG! Không phải như thế!
Tớ, nhân danh một người có cái đầu biết nghĩ, có cái tim biết rung động, và có cái «gan» dám nói ra những điều mà khối người nghĩ như tớ mà chẳng dám hé môi, xin tuyên bố:
Theo tớ:
CHIẾN DỊCH 12 NGÀY B52 DỘI BOM MIỀN BẮC VIỆT NAM KHÔNG HỀ CÓ MỘT MỤC ĐÍCH QUÂN SỰ NÀO!
Mỹ cũng chẳng muốn tiếp tục tham chiến, mà ta cũng chẳng mong tiêu hao bớt không lực Hoa Kỳ để đọ tài nghệ thuật quân sự làm gì!

    Tất cả chỉ nhằm mục đích là kéo phái đoàn Lê Đức Thọ trở lại Paris để ký kết cho xong cái Hiệp Nghị đã hoàn chỉnh và ký tắt, trừ một điều khoản chưa thống nhất mà quan trọng bậc nhất là «phía Mỹ phải bồi thường chiến tranh với số tiền là…tỷ ??? đô-la….».
Chính cái sự bế tắc tạm thời này mà hai bên đều tạm nghỉ, để chuẩn bị một «ván cờ chính trị bằng …bom đạn» cuối cùng, mà nguời Mỹ đang nóng lòng chấm dứt ngay cái cuộc dính líu “tốn kém tiền bạc và mạng người nhất trong lịch sử của nước Mỹ”

Tuesday, November 27, 2012

Chuyện của một binh nhì VNCH từng giữ đảo Hoàng Sa



- QUẢNG NAM - Gặp ông trong một buổi chiều mùa Hè ở xã Bình Tú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, trong căn nhà cũ kỹ, mùi ẩm mốc và những tiếng dế ám gợi một thời xa xôi nào đó của chủ nhân, người đàn ông gần tuổi bát thập cùng những khoảnh khắc lúc nhớ, lúc quên đang đuổi nhau trên vầng trán đã ngả màu nắng úa...
            Ông là một cựu quân nhân VNCH, người lính Hoàng Sa, mang số 477, Tiểu Ðoàn 123, Tiểu Khu Quảng Nam.
Câu chuyện của một đời người, của những tháng năm oanh liệt và tuổi già gian nan, cơ cực... Những tháng năm xa xưa như một lời ru an ủi thực tại.
Tên ông là Nguyễn Ðức, năm nay 75 tuổi, có 5 người con gái, 5 người con rể và một người vợ cùng tuổi với ông. Một cuộc sống trầm trầm, chậm chậm cùng những bữa cơm đạm bạc, sáng sáng vác cuốc ra đồng, chiều chiều hun khói... nhớ chiến chinh!
          Nói nghe cứ như thơ nhưng đó là sự thật, một sự thật đôi khi có chút phũ phàng và đau đớn ở một người đàn ông và một người đàn bà đã bước sang bên kia con dốc cuộc đời nhưng lại vất vả quanh năm suốt tháng làm lụng kiếm cơm, thậm chí giúp đỡ cho con gái, con rể vì họ cũng khó khăn, gian nan chẳng kém gì ông.

 Thời chinh chiến...

Ông Nguyễn Ðức, người lính VNCH cách đây 37 năm từng tham gia trận đánh giữ đảo Hoàng Sa. (Hình: Phi Khanh/Người Việt)
                

Friday, September 28, 2012

Trao Trả Tù Binh Bên Phe Việt Cộng Và Người Tìm Tự Do Cuối Cuộc Chiến.

"Sự cố"! Một danh từ mà phe Việt Cộng mang vào thủ đô Sài Gòn của chính quyền miền Nam VNCH ngay sau buổi trưa ngày 30-4-1975.
   "Sự cố", nguyên là từ Hán Việt chỉ một việc vừa xảy ra (Chữ Sự thuộc bộ Quyết, chữ Cố thuộc bộ Phác) nhưng hầu như được hiểu là điều bất thường và không hay xảy ra trong một quá trình hoạt động nào đó: Máy có sự cố, có sự cố trên đường đi... (Đại Từ điển tiếng Việt, trang 1408).
    Ít người thuộc phía miền Nam VNCH biết đến danh từ này ngoại trừ những ai đã từng có thời gian làm việc, sống gần với phe Việt Cộng như trong các phiên họp, tù giam ở các nhà lao, nhà máy, khu vực doanh trại bộ đội...
       Bài viết này, tác giả viết về các "sự cố" xảy ra ở những buổi trao trả tù binh cho phe Việt Cộng trong thời kỳ thi hành Hiệp Định Ba Lê 1973.
          Trước tiên, tác giả xin giải thích chữ Việt Cộng dùng trong bài viết là để chỉ chung Cộng Sản Bắc Việt và Việt Cộng miền Nam (tức Mặt Trận Giải Phóng và sau này họ cải danh là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam (sau ngày 6-6-1969) nhưng ai cũng biết cả hai phe họ đều là một và đều do chính quyền Hà Nội chỉ huy).
          Ngoại trừ phần lớn tù binh quân nhân Hoa Kỳ (hầu hết là phi công) được phe Việt Cộng trao trả tại sân bay Gia Lâm ở Hà Nội (giam tập trung ở nhà lao Hỏa Lò sau vụ tập kích Sơn Tây ngày 20-11-1970) thì chỉ có một số rất ít tù binh quân nhân Hoa Kỳ và đồng minh như Úc, Tân Tây Lan... được trao trả tự do tại Lộc Ninh.
        Về tù binh các bên người Việt thuộc phía chính quyền miền Nam VNCH và Việt Cộng được Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát (việc thi hành Hiệp Định Ba Lê) ấn định sẽ được trao trả tại các địa điểm như bờ sông Thạch Hãn (tỉnh Quảng Trị), Đức Phổ (tỉnh Quảng Ngãi), Bồng Sơn (tỉnh Bình Định), Lộc Ninh, Minh Hòa (tỉnh Bình Long), Bình Thủy (tỉnh Cần Thơ)...
Bạn tù Việt Cộng đả thương Nguyễn Văn Chẳng trước sự chứng kiến của các đại diện ICCS và UBLHQS.
Tù binh Việt Cộng thứ hai được đại diện ICCS hộ tống đến máy bay C 130 để về lại phi trường Biên Hòa.
             Ủy Hội Quốc Tế Kiểm Soát và Giám Sát có tên là International Commission of Control and Supervision (gọi tắt là ICCS) đã ấn định 4 đợt trao trả chính như sau:
         Đợt 1 khởi sự từ 12 tháng 2 đến 26 tháng 2 năm 1973 và phía miền Nam VNCH trao trả cho phe Việt Cộng 7000 (bẩy ngàn) tù binh (bao gồm cán binh trong các lực lượng võ trang cùng tù chính trị) để nhận lại 1032 (một không ba hai) người (thuộc quân nhân, công chức, cán bộ) và 163 tù binh quân nhân Hoa Kỳ và đồng minh.
             Đợt 2 khởi sự từ ngày 8 cho đến ngày 13 tháng 3, phía chính quyền miền Nam VNCH trao trả cho phe Việt Cộng là 5.596 (năm ngàn năm chín sáu) người để nhận lại 1.004 (một ngàn lẻ bốn) người cùng 142 quân nhân Hoa Kỳ và đồng minh.
       Đợt 3 khởi sự từ ngày 14 cho đến ngày 19 tháng 3, phía chính quyền miền Nam VNCH trao trả cho phe Việt Cộng 7.294 (bẩy ngàn hai chín tư) người để nhận lại 1.214 (một ngàn hai một bốn) người cùng 140 quân nhân Hoa Kỳ và đồng minh.
Đợt 4 khởi sự từ 23 đến tháng 4 năm 1973, phía chính quyền miền Nam VNCH trao trả cho phe Việt Cộng 6.619 (sáu ngàn sáu một chín) người để nhận lại 2.178 (hai ngàn một bẩy tám) người cùng 149 quân nhân Hoa Kỳ và đồng minh.
Mỗi ngày trao trả thường có từ 8 đến 10 chuyến máy bay vận tải C 130 của phía chính quyền miền Nam VNCH chở tù binh phe Việt Cộng đến tại nơi trao trả. Tù binh thuộc Cộng Sản Bắc Việt (các lực lượng chánh qui xâm nhập) được trao trả tại Quảng Trị (bờ sông Thạch Hãn) và tù binh thuộc Việt Cộng miền Nam (gồm tù chính trị, các lực lượng võ trang địa phương...) được trao trả tại nhiều địa điểm ở miền Nam.
                      Các đại diện của UBLHQS tại một buổi công tác.
    Ngoài ra, còn có các vụ trao trả lẻ tẻ không đúng theo kế hoạch mà ICCS đã dự trù. Nơi trao trả tù binh người Việt đầu tiên là tại Lộc Ninh thuộc tỉnh Bình Long.
      Ta biết Lộc Ninh (cấp quận) nguyên là một vùng dân cư hẻo lánh nằm cạnh thung lũng sông Rừng Cấm của tỉnh Bình Long, khi trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa (1972) xẩy ra thì Lộc Ninh lọt vào tay Việt Cộng (vào ngày 7 tháng 4) và kể từ đây, Lộc Ninh trở thành thủ đô của cái gọi là Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa miền Nam Việt Nam. Ở Lộc Ninh có một phi trường nhỏ nằm giữa rừng cao su, cách quốc lộ 13 khoảng 1 km (thuộc quyền kiểm soát của trung đoàn 9 Bộ Binh miền Nam VNCH trước đó) và đã trở thành nơi để trao trả tù binh.
             Các sự cố đã xẩy ra trong các buổi trao trả mà đều do tù binh phe Việt Cộng gây ra. Trong ngày cuối của đợt 2, một tù binh Việt Cộng tên Nguyễn Văn Chẳng (nguyên là quân nhân thuộc Công Trường 9) trong lúc chờ làm các thủ tục thì đột nhiên, anh ta xin được quay về trại tù (Phú Quốc) thay vì sẽ đi sang phần đất thuộc phe Việt Cộng (các lều dã chiến gần đó) để nhận tư trang mới.
            Sự chọn lựa của tù binh Nguyễn Văn Chẳng là một bất ngờ, làm bối rối tất cả những nhân viên có nhiệm vụ tiến hành việc trao trả-nhận lãnh người đang có mặt tại chỗ (bao gồm đại diện ICCS, phía miền Nam VNCH cùng phe Việt Cộng).
    Khi được thông báo tin có tù binh xin ở lại (không về với rừng sâu âm u cùng các đồng đội-đồng chí nữa) thì khá đông các tù binh Việt Cộng khác (từ các lều bên phe Việt Cộng) liền xông đến và đả thương anh Nguyễn Văn Chẳng liền.
     Các đại diện của ICCS cùng nhân viên phía miền Nam VNCH liền nhẩy vào can thiệp, đám tù binh gây rối bị giải tán và bị buộc phải quay trở về chỗ cũ (các lều dã chiến). Nguyễn Văn Chẳng được các đại diện của ICCS đưa gặp các nhân viên phía chính quyền miền Nam VNCH để làm các thủ tục mới về trường hợp của cá nhân anh (chuyển sang quy chế chiêu hồi) nhưng thật không ngờ, anh ta lại đổi ý lần nữa và xin được trao trả về với đồng đội của mình.
          ICCS đành tiến hành tiếp các thủ tục bàn giao anh ta cho phe Việt Cộng. Việc anh Nguyễn Văn Chẳng vừa xong thì chỉ chốc lát sau, có một tù binh thứ hai (không rõ tên) xin được ở lại phía chính quyền miền Nam VNCH.
      Khi được thông báo, các đại diện của ICCS đã vội cách ly anh nầy đến một chỗ khá xa các lều dã chiến của phe Việt Cộng (có lẽ họ rút kinh nghiệm từ chuyện đả thương vừa rồi). Khi các thủ tục cho việc xin ở lại này đã xong, đại diện của ICCS đã hộ tống người thứ hai này ra đến tận máy bay trong chuyến quay về lại phi trường Biên Hòa.

Thursday, February 23, 2012

Phỏng vấn cựu Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu (1990 )



  

               ** Việt Nam Cộng Hòa , Một  thời đã qua..
      một thời thương nhớ..


 
                  ******

Thursday, January 6, 2011

Bản tổng kết của một cố vấn - Phỏng vấn Henry Kissinger

http://www.thongluan.org/vn/images/kissinger.jpg

Christoph Amend & Matthias Nass

-

“… trong thời kỳ tôi làm việc cho chính quyền, ông sẽ xác định được thật là cực kỳ khó khăn cho tôi để hoàn thành nhiệm vụ. Đó là những năm tháng đầy ngờ vực, sợ hãi và với ý chí để vượt qua …”

Lời người dịch: Trong khi trả lời cho tuần báo Die Zeit của Đức về vấn đề Irak, ông Henry Kissinger đã có đề cập đến Việt Nam. Ông cho biết là chưa có một tác phẩm nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam nào đạt được tính khách quan. Ông đã tin là Bắc Việt sẽ tôn trọng hoà ước, Nam Việt Nam tiếp tục tồn tại và miền Bắc không gây xâm lăng làm sụp đổ miền Nam. Việc ném bom Kampuchia đối với ông cũng không là một sai lầm. Ông cho rằng chính trị quốc nội Mỹ, đặc biệt các phong trào phản chiến, đã làm thay đổi phương sách ngoại giao của Mỹ.Đỗ Kim Thêm

Hỏi: Thưa Tiến sĩ Kissinger, trên thành cửa sổ bên cạnh chỗ ngồi nơi ông làm việc có đặt một tấm hình được lồng khung chụp ông và Tổng thống Mỹ, bên dưới có dòng chữ viết tay đề tặng: „Tặng Henry, với lòng biết ơn về những lời khuyên đáng tin cậy, Gorge W. Bush“. Chúng tôi phải hình dung những lời khuyên của ông như thế nào? Ông có gặp tổng thống thường xuyên không?

Henry Kissinger: Cứ khoảng bốn đến sáu tuần là chúng tôi nói chuyện với nhau. Những cuộc gặp gỡ này không thường xuyên. Chúng tôi nói chuyện mặt đối mặt thôi, không có văn bản kèm theo. Và trước hết chúng tôi ít khi nói chuyện về thời sự chính trị.

Hỏi: Vậy thì các ông nói về những chủ đề gì?

Henry Kissinger: Chúng tôi nói chuyện về những chiến lược tương lai, về những sự phát triển trong lãnh vực ngoại giao, về mối quan hệ với các nước khác, thí dụ như với Trung Hoa, Hàn Quốc, Nga và Iran. Hầu như chúng tôi không hề nói chuyện về các đề tài tuần tới chúng ta phải làm gì ở Irak. Tôi hy vọng là ông hiểu rằng tôi không có một chức vụ chính thức nào. Theo kinh nghiệm của tôi mỗi vị tổng thống sớm hay muộn gì cũng tìm ra người giúp ông ta để khai triển một viễn cảnh mang tính triết lý và ý niệm.

Hỏi: Ông làm việc này cho Georg W. Bush?

Henry Kissinger: Còn nhiều người khác nữa. Tổng thống có đủ người chung quanh ông ta để lo những công việc hàng ngày. Ông cần đến một vài người không thuộc bộ tham mưu để có thể thảo luận về đường lối chung.

Hỏi: Ông nhận xét thế nào về Tổng thống?

Henry Kissinger: Người châu Âu và New York nhìn ông như một nhân vật biếm họa. Nhưng cần phải nói rõ hơn: Năm 2000 tôi đã ủng hộ John McCain, không ủng hộ Georg W. Bush. Dạo đó tôi không hề quen cá nhân ông Bush. Hiện nay tôi có thể nói là: Đối với người châu Âu Bush là người khó hiểu, bởi vì ông ta xuất thân từ một tiểu bang có ít các mối quan hệ quốc tế. Ông ta là một người yêu nước nồng nàn và có ý thức trách nhiệm cao. Ông ta thông minh, cho dù khi nhiều người phê bình ông khẳng định điều ngược lại. Ông ta là một ngưòi biết đặt những câu hỏi hay. Ông ta hiểu rõ rằng cái gọi là thách thức cuả bọn khủng bố là một hiện tượng toàn cầu. Ông ta nhận trách nhiệm về những quyết định của mình. Ông hiểu rõ vấn đề. Ông có nhiều khó khăn tìm những cộng sự viên để theo đuổi mục tiêu của ông về phương cách thuyết phục, đặc biệt những người nghĩ ra những chiến thuật thích nghi với văn hoá của những xã hội khác.

Tổng thống G.W.Bush và ông Kissinger

Hỏi: Một mặt, hiện nay nước Mỹ là siêu cường duy nhất với sự chế ngự về chính trị, kinh tế và quân sự không thể nào so sánh được. Nhưng mặt khác, hình ảnh của nước Mỹ lại xấu hơn so với trước đây. Ông giải thích thế nào về sự tương phản này?

Henry Kissinger: Chúng ta đang sống trong một thời đại phức tạp. Đúng, nước Mỹ là siêu cường duy nhất. Nhưng mà nhiều vấn đề của thế giới hiện đại không thể giải quyết bằng giải pháp quân sự. Chính vì thế mà một nước như Mỹ có thể có quyền lực mà đồng thời cũng không gây những ảnh hưởng tương xứng. Phong trào chống Mỹ như ông mô tả chỉ có phát triển mạnh ở Âu Châu và Trung Đông. Phong trào này không đủ mạnh ở Trung Hoa, Nhật Bản và Nam Dương.

Hỏi: Ở Âu Châu phong trào này chưa bao giờ mạnh hơn so với bây giờ.

Henry Kissinger: Nước Mỹ vẫn còn coi mình như là một quốc gia vào thế kỷ 19, một đất nước bảo vệ quyền lợi của riêng mình. Ở Âu châu tuy vẫn còn nhiều quốc gia, nhưng quốc gia không còn là điểm đặc trưng nhận dạng quan trọng nhất cho con người sống ở đó nữa.

Hỏi: Ông nghĩ gì khi nhận xét như vậy? Người Pháp, người Ý, người Đức, nhiều người sẽ phản bác ý kiến cuả ông.

Henry Kissinger: Nhưng mà có lẽ họ sẽ không phản bác, một khi vấn đề được đặt ra là liệu một chính quyền có thể đòi hỏi dân chúng hy sinh cho chính sách của mình hay không – kể cả ở chính sách đối nội lẫn đối ngoại. Ở Âu châu hoà bình là mục tiêu quan trọng nhất trong chính sách đối ngoại, trong khi đó ở Mỹ nó chỉ là một mục tiêu quan trọng trong nhiều mục tiêu khác. Nhưng dĩ nhiên phương sách của chính quyền Bush trong nhiệm kỳ đầu tiên đã tạo ra quá nhiều vấn đề làm cho phong trào chống Mỹ gia tăng trên toàn cầu.

Hỏi: Lý do quan trọng nhất trong đó là chiến tranh tại Irak.

Henry Kissinger: Tôi cho rằng chiến tranh Irak là biểu tượng cho sự phát triển này. Cho dầu cuộc chiến này là lý do chủ yếu cho thái độ chống Mỹ, chúng ta không thể giải quyết vấn đề bằng cách đơn giản là rút quân ra khỏi Irak. Ngay cả khi quân đội Mỹ rút toàn bộ ra khỏi nước này, cuộc chiến vẫn tiếp tục. Và những xung đột tại Trung Đông cũng không giải quyết. Điều tiên quyết là phải có một giải pháp chính trị. Dẫu có những bất đồng quan điểm trước đây, Mỹ và Âu châu có một quan tâm chung là tìm ra một kết quả về chính trị.

Hỏi: Ngay từ đầu chính ông đã ủng hộ chiến tranh Irak.

Henry Kissinger: Tôi ủng hộ quyết định tấn công Irak, đúng. Nhưng mà tôi cũng công khai phê bình các quyết định khác. Tôi đồng ý tấn công để lật đổ Saddam, và sau đó thì toàn bộ việc điều hành phải để cho quốc tế làm như trước đây đối với Balkan.

Hỏi:N gay trước khi khởi đầu cuộc chiến thì đã rõ là việc này không thực hiện được, Mỹ và Anh đã đứng ở một vị thế khá đơn độc.

Henry Kissinger: Tôi không đồng ý điểm này. Vào tháng 6 năm 2003, nhiều quốc gia trong đó có Pháp và có lẽ cả Ấn Độ đều sẵn sàng tham dự với điều kiện là một can thiệp quốc tế phải được thành hình. Tình hình phát triển khác đi. Tôi cho là không thể nào đạt được việc mà chúng ta có thể dân chủ hoá Irak trong ngắn hạn, điều mà có thể tìm sự ủng hộ cúa công luận tại Mỹ. Tôi không bao giờ tin là một chính quyền quân sự có thể thiết lập tại Irak mà không dẫn tới những phong trào kháng chiến.

Nếu hiện nay chúng ta lập một bản tổng kết, chúng ta phải nói là tổn thất lên quá cao. Và bây giờ thì sao? Nếu Mỹ ở lại Irak thì những thành công quân sự cũng không được nhiều người đánh giá cao. Nhưng nếu Mỹ rút ra, điều này sẽ gây bất ổn tại Libanon, Jordanie va Saudi-Arabien. Bọn khủng bố sẽ di chuyển căn cứ tới Irak, đây là khả năng có thể xảy ra. Và các quốc gia lân cận như Thổ Nhĩ Kỳ và Iran sẽ là mối quan tâm của họ tại Irak, khi cần thiết họ sẽ theo đuổi một giải pháp quân sự.

Hỏi: Theo ông thì sẽ không có giải pháp?

Henry Kissinger: Giải pháp không phải chỉ bằng cách quân sự mà còn là chính trị. Quá nhiều người chỉ xoáy quanh mối quan hệ giữa Iran và Mỹ. Nhưng cuộc thảo luận về đề tài này tiếc là chỉ theo đuổi một phương châm: Chúng ta không thắng được bằng chiến tranh, chúng ta phải đàm phán. Nhưng mà ông có thể tin chắc là các nhà thuơng thuyết ngồi vào bàn dễ dàng và thuyết phục được nhau với những lập luận hợp lý về sự ổn định tại Trung Đông cần đến?

Để đạt tiến bộ, người ta cần phải đạt được ba mục tiêu: thứ nhất, cả hai phiá phải tin rằng không ai có thể thành công bằng giải pháp quân sự, thứ hai, cần phải tạo ra một môi trường cần thiết để có thể đạt được một sư quân bình cán cân quyền lực. Thứ ba, cần phải có một chính sách ngoại giao cương quyết, có xác định mục tiêu và phối hợp. Tôi tin rằng cả hai phiá đang tìm đúng hướng.

Hỏi: Ông có lần nói kết cục của cuộc chiến tranh ở Irak quan trọng hơn nhiều so với kết cục của chiến tranh ở Việt Nam.

Henry Kissinger: Vâng, tôi vẫn giữ quan điểm ấy.

Hỏi: Cho mãi đến nay thì chiến tranh Việt Nam đã làm tổn thương tinh thần người Mỹ khá sâu đậm.

Henry Kissinger: Sự tổn thương do cuộc chiến tranh Irak gây nên sẽ còn sâu đậm hơn. Sau khi chiến cuộc Việt Nam kết thúc, thì tình hình tại Đông Nam Á ổn định. Nhưng mà ổn định tình hình Trung Đông sẽ khó khăn hơn nhiều. Tôi hy vọng một ngày nào đó sẽ có người phân tích chiến tranh Việt Nam khách quan hơn. Cho đến nay không ai thành công trong việc này, dù với tất cả mọi cố gắng.

Hỏi: Ông muốn gì đến tính khách quan? Mỹ muốn dùng phương tiện quân sự để chiến thắng Cộng sản tại Việt Nam. Cuộc chiến phải trả bằng hàng triệu sinh mạng của người Việt từ hai phiá. Cuối cùng Mỹ phải rút khỏi Việt Nam. Việt Nam được coi như là một nguyên nhân tạo một phong trào chống Mỹ khắp thế giới.

Henry Kissinger: Câu hỏi của ông đơn giản vấn đề quá mức. Mỹ đã can thiệp sau khi Hà Nội đã đột nhập vào Nam Việt nam với những sư đoàn chính quy. Mỹ đã làm điều ấy, các chính quyền Kennedy và Johnson thử áp dụng nguyên tắc chính sách ngăn chặn, một chính sách đã áp dụng thành công tại châu Âu. Tại Việt Nam, phương cách này đã thất bại;

nhưng thật ra không công bình khi tố cáo kẻ đã chống lại cuộc xâm lăng,

thay vì tố cáo những kẻ đã xâm nhập miền Nam.

Mục tiêu quan trọng nhất của Mỹ là giúp cho dân chúng miền Nam Việt Nam có một cơ hội để tự quyết định vận mệnh của mình. Mục tiêu này đã đạt được trong hoà ước 1973. Trước đó chính quyền Nixon đã rút 510 000 người lính, dù là đơn phương. Năm 1971 Mỹ đã chấm dứt mọi cuộc chiến trên đất liền, tổn thất đã giảm đến 90 phần trăm. Đó là một loại chiến thắng.

Hỏi: Một cuộc chiến thắng của Mỹ ở Việt Nam?

Henry Kissinger: Trong ý nghiã là chúng tôi đã được mục tiêu những gì mà chúng tôi đã muốn đạt được trong bản chất của vấn đề. Một điều kiện duy nhất cuả Bắc Việt mà chúng tôi luôn luôn chống đối là Hà Nội đòi hỏi diễn tiến hoà bình chỉ có thể khởi đầu khi chính quyền miền Nam sụp đổ. Theo quan điểm của Hà Nội thì tất cả mọi vấn đề khác chỉ có thể thảo luận khi sau sự sụp đổ này, nói một cách khác, trong sự hỗn loạn về chính trị. Chúng tôi cho rằng đây là một điều kiện không danh dự- nhất là đối với giới lãnh đạo của một liên minh dân chủ trong thời kỳ cao điểm của chiến tranh lạnh. Sau khi Hà Nội đồng ý rằng chính quyền Sài gòn có thể còn tại chức, chúng tôi đã có thể giải quyết các vấn đề khác nội trong một vài tuần lễ.

Hỏi: Ông thực sự nghĩ rằng Mỹ đã chiến thắng vào năm 1972?

Henry Kissinger: Tôi hiểu sự chế diễu của ông.

Ông hãy để cho tôi nhắc lại những điểm chính trong thoả thuận của năm 1972:

ngưng bắn vô điều kiện. Chính quyền Sài gòn phải còn nắm quyền. Viện trợ quân sự và kinh tế của Mỹ phải được tiếp tục – đặc biệt là viện trợ quân sự không chỉ giới hạn trong việc cung ứng những phụ tùng thay thế.

Bộ đội Bắc Việt phải rút khỏi Lào và Kampuchia. Không một đơn vị nào của Bắc Việt được phép xâm nhập miền Nam.

30.000 lính Mỹ còn lại sẽ phải rút khỏi Việt Nam. Tất cả sẽ được giám sát bởi bốn quốc gia trung lập. Không có một nội dung nào trong những thoả thuận này có thể đạt được trước năm 1972 như các huyền thoại hiện nay có thể lên tiếng. Chúng tôi không biết rằng nếu những cam kết này có được bảo đảm hay không, nếu như Mỹ vẫn tiếp tục viện trợ quân sự và kinh tế.

Watergate đã làm điều này không thực hiện được, vì uy tín của Nixon tiêu tan và quốc hội thù nghịch nắm quyền. Quốc hội đã cấm các phản công quân sự chống lại các vi phạm trầm trọng việc ngưng bắn, làm giảm thiểu các viện trợ quân sự và kinh tế cuả Mỹ cho Việt Nam đến một phần ba và cắt toàn bộ viện trợ cho Kampuchia.

Vào thời điểm này không còn lực lượng Mỹ ở Việt Nam và cũng không còn tổn thất nào về phía Mỹ. Chúng tôi đã ngưng viện trợ cho một nước đồng minh, một phần chính vì những tranh chấp về chính trị nội bộ của chúng tôi.

Hỏi: Khi nghe ông nói người ta có thể cảm nhận rằng những năm thời chiến vẫn còn sống động đối với ông.

Henry Kissinger: Dĩ nhiên, vào lúc đó tôi đứng vào trọng tâm của mọi diễn biến. Đó là một bi kịch não lòng.

Hỏi: Và ông nghĩ lại những biến cố này qua cuộc chiến Irak?

Henry Kissinger: Đây là một cuộc chiến tranh khác biệt. Việt Nam là một phần của chiến tranh lạnh và cuộc chiến này đã qua đi quá lâu. Không, Irak không phải là Việt Nam. Nhưng một vấn đề ngày xưa vẫn làm tôi suy nghĩ: Những cuộc thảo luận về chính trị quốc nội đã rơi vào điểm nào để lọt ra ngoài vòng kiểm soát đến độ nó tạo ra những huyền thoại. Từ đâu mà có sự cưỡng chế phải chấm dứt chiến tranh Việt Nam khi mà chúng ta không còn lính Mỹ đóng ở đó nửa. Đáng lý ra chúng ta phải tiếp tục viện trợ cho Việt Nam, nhưng mà thế hệ chống đối cần sự thoả mãn.

Hỏi: Sự chống đối chiến tranh Việt Nam khởi đầu từ trước năm 1972…

Henry Kissinger: Vâng, từ năm 1968. Sự chống đối thay đổi qua thời gian. Trưóc tiên sự chống đối có nghiã là cuộc chiến không mang đến thắng lợi với các phương thức sẵn có. Tôi đồng ý điểm này. Điều này có nghiã là do phong trào phản chiến chúng ta phải thương thuyết. Tôi cũng lại đồng ý điểm này. Và cũng xin ghi nhận thêm: 1967 Mỹ đã có những tiếp xúc bán chính thức với Hà Nội. Sau đó lại có quan điểm cho rằng chiến tranh là một thí dụ tiêu biểu tinh thần phi đạo đức của Mỹ, một căn bịnh mà xã hội Mỹ gặp phải.

Là một ngưòi ty nạn được thụ hưởng nền dân chủ của Mỹ, tôi không đồng ý với tiền đề cho rằng Mỹ là không có đạo đức. Và tôi cũng đã không đồng ý cho một giải pháp rút quân không điều kiện. Chúng tôi đã đặt ra đòi hỏi là dân chúng Nam Việt Nam phải quyết định lấy vận mệnh của mình.

Hỏi: Điều này làm ông nhớ lại tình hình hiện nay tại Irak?

Henry Kissinger: Quá nhiều người hiện nay chỉ giam hãm minh trong một ý tưởng duy nhất: Các anh phải chấm dứt chiến tranh. Những người này muốn nói tới loại chiến tranh nào? Khi xưa tại Việt Nam, cộng sản miền Bắc xâm nhập miền Nam, vì chúng ta không giúp miền Nam nữa. Hiện nay giải pháp cũng phải là chính trị, giải pháp này không chỉ đạt được qua việc rút quân.

Hỏi: Qua những cuộc thương thuyết với Bắc Việt Nam ông đã được trao giải thưởng Nobel về hoà bình năm 1973. Một trong những cộng sự viên của ông sau này kể lại là ông phản ứng một cách rất ngạc nhiên: “Ai đoạt giải? Sao lại là tôi?”

Henry Kissinger: Tôi không biết rằng tôi vào vòng chung kết của giải này, chính vì thế mà tôi không tin như vậy. Tôi không hề gây áp lực để đoạt giải. Sự ngạc nhiên của tôi không phải ở chỗ là tôi không hề nghĩ mình xứng đáng đoạt giải. Tôi đã hãnh diện về những gì mà chúng tôi đã đạt được ở Việt Nam.

Hỏi:N hìn lại những năm làm việc với chức vụ cố vấn an ninh và ngoại trưởng, ông có điều gì hối hận không, ông có phạm phải những sai lầm nào không? Thí dụ như việc ném bom Kampuchia, phải chăng đó là một sai lầm nghiêm trọng?

Henry Kissinger: Tôi muốn giới hạn câu trả lời cuả tôi vào việc ném bom những căn cứ Bắc Việt dọc theo biên giới Kampuchia. Không, tôi không tin đó là một sai lầm. Anh sẽ làm gì khi anh ở vào tình trạng của chúng tôi khi đó? Bên kia biên giới Kampuchia có bốn sư đoàn và họ giết hằng ngày hằng trăm lính Mỹ. Tại sao nguyên tắc trung lập phải bảo vệ họ?

Hoàng thân Sihanouk, Quốc Trưởng Kampuchia, dường như cũng nhận ra như thế. Hai tháng sau khi đợt không tập đầu tiên trên vùng trú quân Bắc việt, Sihanouk đã trả lời về cuộc ném bom B 52 trong một cuộc họp báo ngày 13/5/1969 là: ”Tôi không chống đối việc oanh tạc các căn cứ Việt Cộng, bởi vì tôi không hề nghe đến việc ném bom bao giờ. Tôi không biết về vấn đề này, bời vì có những khu vực không hề có nguời Kampuchia ở. Không ai bị trúng đạn, không ai, không một ngưòi Kampuchia nào.”

Hỏi: Sự can dự của Mỹ đưa đất nưóc này vào tình trạng hỗn loạn. Cuối cùng Pol Pot nắm quyền và xây dựng một chế độ khủng bố.

Henry Kissinger: Thú thật với ông khi nhận trả lời cho cuộc phỏng vấn này của một tờ báo mà tôi luôn tôn trọng, và các vị chủ biên trước đây và hiện nay của nó là những người mà tôi luôn kính quý, tôi không hề nghĩ rằng tôi phải trả lời như trong một phiên toà xử tội về những biến cố của bốn thập niên trước bằng giọng điệu này. Tại sao ông nói sự tự vệ cuả người Mỹ mà không nói là sự tấn công của Hà Nội gây nên sự hỗn loạn? Ông tin là Pol Pot đã nhân đạo hơn khi ông ta có thể nắm quyền bốn năm sớm hơn hay sao? Ông ngụ ý rằng một phản ứng duy nhất hợp pháp trước sự tấn công của nhóm người sát nhân diệt chủng là chủ trương hiếu hoà và thụ động sao? Vấn đề đặt ra là do đâu mà có sự hỗn loạn. Lại cũng là một vấn đề thuộc về tranh luận nội tình của nuớc Mỹ. Chúng tôi không được phép viện trợ thêm 300 triệu cho Nam Việt Nam, chúng tôi không được phép gởi quân vào các quốc gia lân cận để giúp đỡ.

Hỏi: Ông được coi như là ngưòi đại diện tiêu biểu cho cái gọi là học thuyết chính sách thực tiễn.

Henry Kissinger Ông đánh đồng chính sách thực tiễn với chính sách về quyền lực. Tôi thì không như vậy. Ngay cả Bismarck, một ngưòi cổ vũ cho chính sách thực tiễn, đã từng nói điều tốt đẹp nhất mà một chính khách có thể làm được là lắng nghe những bước đi của Chúa, nắm lấy gấu áo của Ngài, và cùng đi với Ngài đi trên một chặng đường ngắn. Là một chính khách theo đường lối thực tiễn, người ta cần đến những giá trị và trên căn bản những giá trị đó mà ngưòi ta hành động. Tôi không chấp nhận sự phân biệt giữa chính sách thực tiễn và những giá trị! Tôi phân biệt giữa một chính sách thực tiễn và một chính sách ngoại giao lý tưởng. Những ngưòi có lý tưởng tin rằng mỗi một quan niệm có thể thực hiện được trong một thời gian nhất định, tốt nhất phải làm ngay. Những nhà chính sách thực tiễn tin vào những giá trị, tuy nhiên ông ta cũng biết cái gì có thể làm được. Là một nhà chính khách thực tiễn tôi xin nói với ông là: Quá nhiều ngưòi chết vì các cuộc thánh chiến hơn là chết vì các chính khách.

Hỏi: Điều đáng ngạc nhiên hơn là làm sao mà ông lại có thể có quan hệ tốt với nhóm người theo thánh chiến, những người theo trường phái tân bảo thủ của chính quyền Bush như vậy.

Henry Kissinger: Lại một giọng điệu mai mỉa không cần thiết. Giới này đã công kích tôi từ hơn một thập kỷ truớc khi thuật ngữ tân bảo thủ này được phổ cập ở châu Âu. Tôi thường đồng ý với cách phân tích của học phái này nhưng ít khi đồng ý với các giải pháp của họ. Họ không phải là những nhà phân tích chiến lược. Họ là những người Trotzkit lộn ngược khi họ tin rằng chính sách ngoại giao chỉ là một khiá cạnh cuả chính sách đối nội. Học phái này tìm một sự hoà hợp trên toàn thế giới, một loại hạnh phúc phổ quát bằng cách thay đổi chế độ.

Hỏi: Họ muốn xuất khẩu nền dân chủ khắp mọi nơi.

Henry Kissinger: Họ thích nhất là các chính quyền Trung Hoa, Nga, Iran và cả Bắc Hàn sụp đổ. Họ coi đó là một chiến lược trường kỳ. Trái với điều này, tôi tin là người Mỹ vừa không có hiểu biết vừa không có tài năng và sự bền bỉ để làm người cha đỡ đầu cho toàn thế giới.

Hỏi: Vấn đề của chính sách thực tiễn là theo quan điểm này nhân quyền chỉ nằm ở vị trí thứ yếu.

Henry Kissinger: Không, cái đó tùy thuộc vào cách nhấn mạnh. Khi ông không xuất hiện như một chiến sĩ cho thánh chiến thì ông có thể nói chuyện vấn đề vi phâm nhân quyền với người Trung Hoa được. Tôi đang làm điều ấy.

Hỏi: Đúng như vậy không?

Henry Kissinger: Vâng, một cách thường xuyên và nhẹ giọng

Hỏi: Nhưng có đủ mạnh để người ta nghe thấy không?

Henry Kissinger: Những người nào phải nghe điều đó, họ sẽ nghe. Bằng cách này con số ngưòi di dân của Liên Xô từ năm 1969 đến 1972 tăng lên từ 900 đến 39.000 hàng năm. Sau khi vấn đề này trở thành một đề tài tranh luận công khai thì con số người di dân không hề xuống dưới 15.000. Ông biết không, những quyết định liên quan đến chính sách đối ngoại khó khăn là những quyết đinh thuộc tỷ lệ 51 trên 49 phần trăm. Ông chỉ có những quyết định thích ứng khi nào ông có xác định những giá trị cuả riêng mình. Nhưng mà người ta cũng phải chấp nhận lịch sử và văn hoá người khác, dĩ nhiên chỉ trong chừng mực không diễn ra nạn diệt chủng như tại Ruanda hay Darfur.

Hỏi: Ông là một nhà chính trị quan trọng đứng hàng thứ nhì tại Hoa kỳ trong nhiều năm. Đối với ông thì quyền lực có ý nghĩa gì?

Henry Kissinger: Tôi vừa tròn 84 tuổỉ. Quyền lực của tôi qua thời gian có thể nhận ra được. Đối với tôi, quyền lực luôn luôn có nghiã là có khả năng đạt được mục tiêu để lại thế giới những gì tốt đẹp hơn trước khi tôi nhận chức vụ. Ngoại trưởng Mỹ là người ngồi vào bàn làm việc, chìm đắm trong tư tuởng của mình và có thể bấm nút ra lệnh, điều này chỉ các vị nhà báo có thể tưởng tượng ra được. Nhưng khi ông nhận ra những vấn đề quan trọng trong thời kỳ tôi làm việc cho chính quyền thì ông sẽ xác định được thật là cực kỳ khó khăn cho tôi để hoàn thành nhiệm vụ. Đó là những năm tháng đầy ngờ vực, sợ hãi và với ý chí để vượt qua.

Hỏi: Trước khi tới Washington, ông là giáo sư đại học Harvard. Dưới thời Nixon và Ford ông không những phân tích chính trị mà còn làm chính trị.

Henry Kissinger: Vâng, đúng như vậy. Mọi chuyện đã xảy ra khác hơn tôi hy vọng. Hợp lý nhất cho tôi là tôi đã trở thành cố vấn an ninh cho tổng thống Rockfeller. Với Nixon, vấn đề phức tạp hơn khi tôi làm cố vấn an ninh cho ông ta vì trước đó tôi chưa làm việc chung với ông ta bao giờ. Ông ta là một tổng thống khác thường và phức tạp. Có lẽ chính vì thế mà tôi không nhớ vào thời kỳ đó đã từng có ý nghĩ gì: Ta sẽ nhập cuộc và đạt được một số quyền lực. Tôi biết có nhiều nhân chứng đã mô tả như thế trong nhiều cuốn sách. Tôi thì nhớ khác đi.

Hỏi: Ông nhớ như thế nào?

Henry Kissinger: Chúng tôi ở trong chiến cuộc. Có 400 người chết một tuần trong sáu tuần đầu tiên. Chúng tôi mất quá nhiều binh sĩ trong sáu tuần này khi so với nước Mỹ mất trong năm năm vừa qua cộng lại. Đó là những bất ổn đầu tiên. Chúng tôi phải chuẩn bị các đàm phán về giải giới. Và chúng tôi không có tiếp xúc vớí Trung Hoa. Tình hình Trung Đông sôi động. Liên Xô lại vừa chiếm đóng Tiệp Khắc. Chúng tôi phải giải quyết vấn đề năng lượng. Điều quan trọng hơn tất cả là: chúng ta phải tạo một trật tự hoà bình.

Hỏi: Cách đây 30 năm, tháng 01/1977 ông đã rời khỏi chính quyền. Ông có luyến tiếc quyền lực không?

Henry Kissinger: Vâng, chỉ có trong vài năm đầu, về sau thì không.

Hỏi: Khi xưa ông có nói: Quyền lực là một phương tiện kích thích tình dục mạnh nhất, câu này còn đúng không?

Henry Kissinger: Xin ông cho tôi trả lời như thế này: sinh hoạt xã hội ở Washington rất náo nhiệt. Điều này chắc chắn là không khác so với Berlin hiện nay.

Hỏi: Chúng ta nói chuyện với nhau bằng Anh ngữ, mặc dù dĩ nhiên ông vẫn còn nói được tiếng Đức. Ông sinh ra ở Fürth và cùng gia đình di dân vào năm 1938 để tránh nạn tàn sát người Do thái.

Henry Kissinger: Vấn đề của tôi với tiếng Đức là tôi không thể diễn đạt chính xác như tiếng Anh. Nói chuyện riêng tư thì không thành vấn đề. Càng sống lâu ở nước Đức thì tiếng Đức của tôi càng khá hơn. Khi tôi thảo luận với các giáo sư người Đức bằng Đức ngữ, tôi không hiểu họ nói gì nữa. Dĩ nhiên tôi có thể đọc một diễn văn bằng Đức ngữ. Nhưng ông cũng biết là đọc một bài diển văn viết sẵn, tôi đoán chắc là cử toạ sẽ không quan tâm.

Hỏi: Cách đây hai năm trong một cuộc viếng thăm Âu Châu, ông kể rằng ông muốn sẽ đi thăm Fürth. Ông không biết rằng đó có phải sẽ là lần cuối không.

Henry Kissinger: Vâng, từng tuổi như tôi, tôi cũng muốn như vậy. Khi xưa tôi rất thích và đã đi nhiều nơi, bây giờ tôi cảm thấy khó hăn hơn. Lòng tôi vẫn gắn bó với quê hương và qua thời gian cũng không thay đổi.

Hỏi: Sự gắn bó này càng sâu đậm khi tuổi tác càng cao?

Henry Kissinger: Ít nhất tôi không có ý thức về điều này. Cứ mỗi cuối tuần tôi đều luôn nhận thông tin về hội bóng đá của tôi tại Fürth chơi như thế nào. Và tôi muốn nói với ông là đó là một điều bất hạnh. Từ nhiều năm nay các hội bóng đá này đã thường thua khít khao, khi chỉ tính về bàn thắng, để vào chung kết trên bảng liên bang Đức. Nhưng bây giờ tôi cũng quen dần với tên gọi hội bóng đá bây giờ có tên gọi là Greuther Fürth, mà không phải là Fürth. Thời niên thiếu của tôi, tôi không biết Greuther là gì.

Christoph Amend & Matthias Nass
Nguồn: Zeitmagazin Leben Nr. 27, 26. Juni. 2007, trang 14-23
Đỗ Kim Thêm dịch