Sunday, November 23, 2014

Cảm nghĩ về ngày 20 tháng 11


Trích facebook Lê Công Định

Ảnh minh họa

   Ảnh minh họa

      Tôi nghĩ ai trong đời cũng đều có một người thầy mình quý trọng nhất. Trong học trình từ lúc niên thiếu đến tận bây giờ, tôi may mắn gặp nhiều người thầy xuất sắc, song dấu ấn lớn để lại trên sự nghiệp của tôi có lẽ là từ Tiến sĩ Võ Phúc Tùng. Tôi gặp thầy khi đã tốt nghiệp cử nhân luật ở trường Đại học Pháp lý Hà Nội, nhưng kiến thức lãnh hội nơi đó luôn làm tôi ngờ vực, bởi các thầy cô đứng lớp hầu hết chỉ vừa tốt nghiệp cử nhân, mà kiến thức của họ chỉ loay hoay như gà mắc tóc trong những quan niệm luật pháp học từ các trường luật Liên Sô và các nước XHCN Đông Âu mà thôi.

Thực tế đã minh chứng các quan niệm luật pháp được xây dựng trên chủ thuyết Marx-Lenin chỉ còn tìm thấy ngày nay ở sọt rác lịch sử, bởi chúng không chỉ lầm lạc mà còn sáo rỗng. 
 Đáng thương cho những trường luật nào trên trái đất này vẫn còn ngày đêm gõ mõ tụng mớ kinh mụ mị đó. Bởi thế, mỗi khi nghe nói ai là “tiến sĩ luật XHCN”, tôi đều tránh bàn về học thuật với họ, vì không muốn báng bổ công trình học hành của mình.
     Thầy Võ Phúc Tùng hoàn thành chương trình cử nhân, cao học và tiến sĩ môn tư pháp tại Đại học Luật khoa Sài Gòn. Thầy là người cuối cùng được trao văn bằng Tiến sĩ tại Việt Nam Cộng Hòa vào ngày 22/4/1975, khi ngoài cửa ngỏ Sài Gòn quân đội đang chuẩn bị trận đánh tử thủ. Do chương trình nghiên cứu bậc tiến sĩ của thầy vừa công phu vừa kéo dài, nên thầy đã được bổ nhiệm làm giảng sư trong nhiều năm trước đó tại các Đại học Luật khoa Sài Gòn, Đại học Luật khoa Cần Thơ và Học viện Quốc gia Hành chánh.
     Đề tài luận án tiến sĩ luật của Tiến sĩ Võ Phúc Tùng là “Les droits de la personne humaine sur son corps” (Quyền của con người trên thân thể của mình), được viết và đệ trình bằng tiếng Pháp trước một hội đồng giám khảo gồm các vị giáo sư luật trứ danh của Việt Nam Cộng Hòa. Đó là một đề tài rất khó trong lĩnh vực tư pháp (droit privé). Điều làm tôi kinh ngạc là mãi đến tháng 11/1993 tại Pháp mới có một luận án tiến sĩ luật khác được viết hoàn tất và đệ trình bởi một học giả Pháp là bà Irma Arnoux, với tựa đề hoàn toàn tương tự bản luận án của Tiến sĩ Võ Phúc Tùng, là “Les droits de l’être humain sur son corps” (trong tiếng Pháp, “la personne humaine” và “l’être humain” đồng nghĩa với nhau).
     Cả hai học giả đều xác định, phân tích và giải quyết thành công những vấn đề pháp lý tương tự nhau, nhưng thầy tôi đi trước bà Arnoux hơn 18 năm. Nói như vậy để thấy rằng, nền luật pháp và hệ thống học thuật làm nền tảng cho nó tại miền Nam Việt Nam trước 1975 đã rất phát triển và hoàn toàn có thể sánh vai với bất kỳ hệ thống luật pháp Tây phương hiện đại nào đương thời. Tiếc thay, sau gần 40 năm kể từ ngày đó, ở Việt Nam bây giờ người ta vẫn cứ loay hoay với bao chương trình “cải cách tư pháp”, mà vẫn chưa thấy cách nào để cải!
      Sau năm 1975, trường luật Sài Gòn bị giải tán, thầy tôi trở thành giảng viên môn Pháp văn kinh tế tại Đại học Kinh tế TPHCM cho đến năm 1984. Do chán ngán với lối giảng dạy tại đại học Việt Nam bấy giờ, thầy tôi bỏ dạy ra ngoài sửa đồng hồ kiếm sống và nuôi đàn con thơ sau này đều thành đạt. Nhắc lại chuyện bi hài ấy, thầy thường nói với tôi: “Học đến bậc tiến sĩ ngày xưa khó khăn như vậy mà tôi còn thành công, huống chi làm những việc tay chân lặt vặt để sống qua ngày!” Câu nói đó là bài học tôi mang theo đến tận hôm nay.
    Vài năm sau, thầy chuyển sang dạy kèm Pháp văn tại tư gia. Nhờ vậy, năm 1991 tôi có cơ duyên gặp và theo học thầy môn Pháp văn. Dù tôi đã học tiếng Pháp từ nhỏ và có chút căn bản vững vàng, thầy Tùng vẫn yêu cầu tôi học lại từ đầu với quyển sách “Cours de langue et de civilisation francaises” của tác giả Mauger. Từ quyển sách căn bản đó, thầy chuyển dần sang những sách văn chương Pháp thế kỷ 18 và 19. Chính thầy đã mở ra cho tôi bầu trời văn chương Pháp tuyệt đẹp mà tôi vẫn còn giữ thói quen đọc đến ngày nay.
    Cũng từ năm 1991 tôi theo học văn bằng cử nhân thứ hai tại Khoa Luật của Đại học Tổng hợp, nơi Tiến Sĩ Võ Phúc Tùng được mời giảng các môn luật căn bản và nâng cao. Năm 1994, thầy bắt đầu dạy riêng cho tôi tại nhà các môn luật học vốn được giảng tại ban cử nhân của các trường luật Pháp. Thầy trò dạy và học với nhau bằng tiếng Pháp. Chính quãng thời gian này đã ghi đậm dấu ấn của thầy trên con đường học thuật của tôi. Nhờ đó mà khi sang Pháp học chương trình cao học luật tại Đại học Panthéon-Assas (Paris 2) vào năm 1998 tôi đã không gặp bất kỳ trở ngại nào.
Ngày đến chào từ biệt thầy Võ Phúc Tùng để đi Pháp học, thầy dặn tôi nhớ ghi danh các khóa giảng về triết học ở Paris, vì triết lý là nền tảng của luật pháp. Thầy bảo, “nếu chỉ làm luật sư kiếm tiền, anh không cần học triết, nhưng tôi biết anh muốn thay đổi hệ thống luật pháp này, nên tôi khuyên anh phải học thêm triết học ở Tây phương, vì nền tảng triết học sai lầm sẽ làm sụp đổ tòa lâu đài pháp lý.” 
     Lời dạy đó của thầy mãi mãi tôi không được phép quên. Thầy còn nói, “anh là người học trò tôi ưng ý và tự hào nhất, mai này anh thành công, tôi sẽ được người đời nhớ vì “danh sư xuất cao đồ”, ráng mà giúp nước!” Tôi xin thầy tấm hình, trong đó Giáo sư Vũ Văn Mẫu khoác trên người thầy tôi áo mão của vị tiến sĩ mới khi thầy vừa nhận văn bằng Tiến sĩ luật năm 1975. Tôi giải thích, “con sẽ nhìn hình thầy mà làm gương để cố gắng học hành nơi xứ người.”
Chuyện như mới vừa hôm qua song đã tròn 16 năm, từ ngày 20/11/1998. Dù về sau tôi có dịp gặp gỡ và học với nhiều vị giáo sư danh tiếng ở các đại học Pháp và Mỹ, song thầy Võ Phúc Tùng vẫn mãi là bậc thầy tôi tôn kính nhất, vì thầy đã mở ra cho tôi nhiều chân trời phía trước.

Lê Công Định



Xin chép lại status của anh Vương Quế Phương khi anh ấy đọc cảm nghĩ của tôi về thầy Võ Phúc Tùng đêm qua. Những gì anh Phương viết trùng hợp với một số thông tin về lý do thật sự vì sao tôi bị bắt năm 2009, mà vào một lúc thuận tiện tôi sẽ kể ra để hầu chuyện các bạn.

Status của bạn Vương Quế Phương:
“Tuyệt!
Hãy để các nhà làm luật xhcn được trau dồi thêm. Không phải đơn giản mà rất nhiều đại biểu Quốc hội có trình độ luật học đã thể hiện sự ngưỡng mộ cá nhân đối với anh Lê Công Định ngay cả khi nghe tin anh bị công an bắt năm 2009.
Tôi vẫn nhớ năm ấy đến Quốc hội báo cáo các thông tin liên quan đến việc đón một đoàn Liên minh Châu Âu, các đại biểu Quốc hội chuyên nghiệp ở đó có cả Phó Chủ tich Quốc hội Uông Chu Lưu đã quan tâm hỏi về việc vì sao bắt anh Lê Công Định.
Cán bộ phụ trách khu vực của Bộ Ngoại giao là anh Nguyễn Hoàng Long, nay là Đại sứ Việt Nam tại Ý nói:

- Thủ tướng gọi a Định là … địch rồi.
    Anh Định có quyền tự hào vì ngay cả Thủ tướng đương nhiệm còn xem anh là đối thủ. Xưa ông ấy có thể bỏ tù người đời như vậy. Nay liệu có thể tiếp tục làm điều tương tự?
    Sau này Đại sứ nhiều nước, nhiều đoàn ngoại giao hỏi phía Việt Nam về việc vì sao lạ vậy? Thường ở các nước, việc ra lệnh bắt phải do nhánh tư pháp, hoặc Tòa án hoặc Viện Kiểm sát ra lệnh, không như ở Việt Nam, Thủ tướng, người đứng đầu ngành hành pháp làm việc này. Đúng ra ông ấy không có quyền mới phải.
Lúc đó tôi không biết nhiều về anh Định, chính sự quan tâm của chính quyền và các đại sứ, tôi đã để tâm. Thật may mắn vì tên của tôi đang nằm trong friendlist của anh.
Trong tất cả các nhân vật của thế giới tự do, anh Định là người được nhiều chính khách trong ngoài nước tây ta mến mộ nhất và cá nhân tôi đã trở thành một người hâm mộ, những mong anh có ngày là đại biểu Quốc hội của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tôi có dịp đến tiếp xúc trong công việc.”
   Vương Quế Phương
Hà Nội 21/11/2014