Tuesday, September 15, 2015

80 NĂM, MỘT CUỘC ĐẦU HÀNG

      Ngàỷ 3-2- 1930, theo lệnh của Liên sô, Nguyễn ái Quốc, ( Nguyễn tất Thành), tập họp ba nhóm cộng sản tạp nham tại Việt Nam lại tại Hồng Kông để thành lập đảng cộng sản Đông Dương. Sau hai năm lãnh đạo nhóm cộng sản này, Nguyễn ái Quốc bị bắt giam tại nhà tù ở Hồng Kông. Cuối 1932, Nguyễn ái Quốc được trả tự do, nhưng cũng có hai nguồn tin khác biệt. Nguyễn ái Quốc đã chết rục trong tù vì bệnh lao phổi. Nguyễn ai Quốc đã chết trên đường đến Liên Sô?  Tuy chưa ai nắm rõ sự sống chết của Y, nhưng Quốc đã hoàn toàn mất dấu từ đây 
. Đến năm 1939, một nhân vật có tên Hồ Quang, đảng viên đảng cộng sản Trung cộng, mang cấp bậc thiếu tá trong đội giải phóng quân Trung cộng xuất hiện và trở thành kẻ lãnh đạo đảng cộng sản VN.
    Trước tiên, Hồ Quang xâm nhập vào địa giới Việt Nam vào đầu năm 1941. Lập căn cứ địa hoạt động cho cộng sản tại hang Pắc Pó. Hang động này trước kia nằm trong nội địa Việt Nam, (gần biên giới) nay đả chuyển tên và nằm sâu trong nội địa của Trung cộng. Đây là bước đầu tiên, Hồ Quang, chiếm đât của dân Việt Nam để đem về cho Tàu, hơn là dâng cho Tàu, vì Hồ Quang không phải là người Việt Nam? 
Tháng 8- 1942, Hồ Quang trở về Trung  Hoa để báo cáo công tác nhập địa và lấn đất của Việt Nam cho đảng cộng sản Trung cộng. Y đã bị tầu Tưởng bắt ở Túc Vinh. Vì sợ bị lộ tẩy là thiếu tá tình báo của Trung cộng, kẻ thù không đội trời chung với Tưởng giới Thạch, nên khi bị bắt Hoồ Quang đã khai tên là Hồ chí Minh, ( Minh cũng có nghĩa là Quang) người Việt Nam. Cái tên Hồ chí Minh này theo y cho đến khi chết vào năm 1969. Thành tích của Hồ Quang trong một năm ngồi tù là … chôm  được tập thơ Ngục Trung Nhật Ký của một người Trung Hoa, thuộc phe Quốc dân đảng. Tác gỉa có lẽ vì hiềm khích hay bị nghi ngờ là Hán gian đã bị quốc dân đảng Trung Hoa băt giam. Ông ta còn sống hay đã chết, không ai hay biết. Chỉ biết tập Ngục Trung Nhật Ký của người này có nhiều bài thơ nói lên ý hướng yêu nước và tận trung vời quê hương và dân tộc của tác gia ở vùng Quảng Đông. Theo lịch sử cổ Trung Hoa thì thuộc nước Việt của Việt vương Câu Tiễn, một trong những ông vua có tôi thần là Phạm Lãi, nổi tiếng thời Đông Chu, sau đó bị sát nhập vào Trung hoa thời Tần thủy Hoàng.

Về tập thơ, bất cứ người nào biết đọc biết viết, có suy nghĩ bình thường, không bị điên loạn, đều có khả năng nhận biết tập thơ này tuyệt đối không phải là của Hồ chí Minh sáng tác. Tuy nhiên, bằng cách nào Hồ chi Minh có được tập thơ thì không ai biêt. Chỉ nghe qua vài chuyện như giả tưởng của nhà nươc cộng sản đưa ra là  “bác” tìm lại được tập thơ này vào năm 1959. Sau đó giao cho Trung Ương đảng cộng sản giữ làm kèn. Từ đây các kèn loa, bỏ quên cả nhân cách, tư cách con người,  phùng mồm lên thổi đó là thơ trong tù của Hồ chí Minh. Tệ hơn, bản văn ăn cắp này còn được một cái nghị định gì đó của nhà nước CHXHCN/VC nâng nó lên hàng tài sản văn hóa của Việt cộng.!(tôi đã viêt trong loạt bài “Tác gỉa ngục Trung Nhật Ký không phải là người Việt Nam”).
Nhờ nguồn văn hóa này, ngày 2-9-1945, nhân cuộc tổng đình công bãi thị và tuần hành của công chức, sinh viên học sinh Hà Nội, Việt cộng do Hồ chí Minh lãnh đạo đã cướp lấy chính quyền hợp pháp của chính phủ Trần trọng Kim. Sau đó Bảo Đại đã thoái vị. Công quyền lọt vào tay Hồ chí Minh, nhưng trong thực tế mới chỉ có danh nghĩa, chưa có thực lực trên toàn quốc.
Với mưu đồ chiếm độc quyền lãnh đâo theo lệnh của CS Tàu- Liên sô, Hồ Quang mời quân Pháp trở lại Hà Nội để gạt Tàu Tưởng, trong phe đồng minh, có nhiệm vụ giải giới quân đội Nhật tại Việt Nam, ra khỏi Việt Nam. Sau đó dùng chiêu bài chống thực dân  Pháp mở lại cuộc chiến tranh với Pháp. Cuộc chiến kéo dài trong 9 năm được nuôi dưỡng bằng súng đạn và cơm gạo của Nga-Hoa với cài chết của “khoảng 250,000 dân thường. Số nhân mạng trong binh đoàn của trung cộng và Việt cộng không được công bố , nhưng người ta ước tính không dưới 500,000 người. Về phía Pháp có 172,108 thương vong. Trong đó có 31,176 binh lính thuộc khối đông dương. Về tài sản cũng không được công bố. Tuy nhiên, sự thiệt hại về tài sản của nhân dân và về những nguồn lợi kinh tế của Việt Nam trong suốt thời kỳ chiến tranh và cả những năm tháng sau chiến tranh, cộng với sự thiệt hại về nhân mạng, đã cho thấy cái giá của chiến thắng là qúa đăt. Cái gía ây không đắt, nếu chiến tranh là con đường duy nhất để dẫn đến Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ thật sự cho dân tộc” ( GS Lê văn Khoa, bài học chín năm 1945-1954)
Tuy nhiên, cái giá ấy là qúa đắt, bởi vì chỉ trong vòng mấy năm sau 1945, tất cả các thuộc địa của Pháp ở Phi Châu đều được trao trả Đôc Lập mà chẳng phải đổ máu. Và ngay tại Việt Nam, trong thực tế, cũng đã được trao trả Độc Lập trọn vẹn vào năm 1949. Theo đó, cái gía máu đổ ra là vô cùng đắt và khốn nạn cho dân tộc Việt Nam. Bởi vì từ sau năm 1954, Việt Nam chẳng những không có Độc Lập, không có Tự Do, không có Dân Chủ, không có Hạnh Phúc. Chỉ có “ mưa sa trên màu cờ đỏ” (Trần Dần), có máu chảy loang đồng ruộng. Và chỉ có một nền chính trị bạo tàn trong tay Hồ Quang đang từng bước đưa Việt Nam vào trong vòng nô lệ của Bắc Kinh.
Và nó còn đắt hơn thế gắp trăm ngàn lần, dưới sự lãnh đạo của viên thiếu tá tàu Hồ chí Minh, đảng cộng sản Việt Nam đã học tập nhuẫn nhuyễn và thực hành đến nơi đến chốn bài viết tâm đắc “địa chủ ác ghê” do Hồ chí Minh chủ xướng. Kết quả, hơn 172,000 người Việt Nam đã bị Hồ Quang và đảng cộng sản Việt Nam đấu tố, và giết hại trong kế sách cướp của giết người Việt Nam cho vừa bụng Tàu, mà chúng gọi là mùa cải cách từ 1953-1956.  Nhân mạng đã thế. Tất cả tài sản của tư nhân, của công cũng như guồng máy công quyền đều thu gọn vào tay đảng cộng sản, giúp Hồ chí Minh hiện thực ý đố thôn tính Việt Nam cho Tàu.
Hồ chí Minh là ai? 
Thực sự không còn ai biết rõ ngọn nguồn, lý lịch của y, ngoài những tài liệu đầy nghi vấn. Lý do của sự thiếu chứng minh thực tế là mãi đến năm 1959, sau khi tất cả những thành viên sáng lập đảng cộng sản ĐD tại Hồng Kông đã chết. Bà chị ruột Nguyễn thị Thành và Nguyễn sinh Khiêm đã yên mồ yên mả. Hồ Quang biết chắc không còn một người nào khả dĩ chứng minh Quang không phải là Nguyễn sinh Cung, Y mới dám úp mở, hé lộ bản tin Hồ chí Minh là Nguyễn ái Quốc người làng Kim Liên. ( trước đó thì luôn mồm chối không phải là Nguyễn ái Quốc). Nhắc lại, vào thời điểm này, chỉ còn một người duy nhất là Trịnh đình Cửu có khả năng biết mặt Nguyễn ái Quốc khi còn ở Hồng Kông. Tuy nhiên Cửu bị mắc bệnh …  câm khi còn ở bên Tàu, nên phải giữ im lặng cho đến chết. Bệnh câm của Y có hai lợi thế, như một cái bóng, dù nói hay không nói đểu ngầm ý chứng minh Hồ Quang là Nguyễn ái Quốc. Đó là lý do Củu còn sống để chết già.
Cùng theo mưu đồ phục vụ cho Trung cộng để xin làm nô lệ, năm 1951, Đặng xuân Khu đã nhân danh tổng bí thư đảng CSVN viết lời  kêu gọi đông bào Việt Nam, “bỏ học chữ Quốc Ngữ, học chữ Tàu. Bỏ thuốc tây, uống tuốc Tễ, để được làm chư hầu cho Trung cộng”. Vào năm 1958, đảng CSVN qua Phạm văn Đồng đã chính thức giao Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam cho Trung cộng. Kế đến,  để thực hiện mưu đồ đỏ hóa toàn cõi Đông Dương theo chỉ đạo của Trung cộng, Hồ chí Minh đã mở chiến tranh vào miền nam Việt Nam. Cuộc chiến tranh này có một chính nghĩa rất ngời sáng do tên Lê Duẫn, tổng bí thư của đảng CSVN công bố ” Cuộc chiến này là  ta đánh là đánh cho Trung quốc cho Liên Sô”. “ Chúng tôi kiên cường chiên đấu tất cả vì công việc của Mao chủ Tịch”. Kết quả của cuôc chiến do tên Lê Duẫn và Hồ chí Minh chủ trương “Đánh đến người Việt Nam cuối cùng cũng đánh” ( để rộng đất cho Tàu kéo sang) đã kết thúc vào ngày 30-4-1975. Theo tài liệu lịch sử “kháng chiến chống Mỹ cứu nước”. (1954-1975) của nhà xuất bản chính trị của nhà nước CHXNCH/VC như sau:
Thiệt hại về nhân mạng của CS miền bắc là: (1) Theo tài liệu Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia có:
  • 1,1 triệu quân nhân chết; trong số đó có 300.000 quân nhân mất tích (chưa tìm được xác)
  • 600.000 quân nhân bị thương hoặc bị bệnh.
  • Gần 2 triệu thường dân chết; Hơn 2 triệu thường dân mang thương tật suốt đời; do miền bắc bị ném bom và dân công tải đạn.
Về phía Việt Nam Cộng Hòa, những người đã hy sinh bảo vệ nền Độc Lập và Tự  Do Dân Chủ và toàn vẹn lãnh thổ cho Việt Nam được ghi nhận như sau:
  • từ 250,000 – 316,000 tử trận hoặc mất tích.
  • Khoảng 1.170,000 quân nhân bị thương, nặng và nhẹ.
  • khoảng 2.000,000 dân thường bị chết và mang thương tật. Trong số hy sinh có một Tổng Thống là ông Ngô đình Diệm, rất nhiều trẻ em đi đến trường như vụ Cai Lậy. Và có khoảng 5000 người dân bị Việt cộng chôn sống để chúc thọ, chúc tết cho Hồ chí Minh trong những ngày tháo chạy khỏi Huế vào tết Mậu Thân 1968
Hoa Kỳ:
  • 58.209 tử trận và chết vì lý do khác
  • Hơn 305.000 bị thương. nặng và nhẹ.
  • 1.948 mất tíchBắc Triều Tiên  *14 phi công chết, 2 cố vấn bị thương?.Trung cộng. 1,446 công binh chết (có lẽ con số rất cao, nhưng không được công bố).

  • Hàn Quốc: 5.099 tử trận 11.232 bị thương. 4 mất tích trong chiến đấu.
Liên Sô. Khoảng 6000 quân nhân Xô Viết tham gia vao chiến tranh Việt Nam.  Số chết được công bố là 16 người?
Philippines:  552 tử trận.
Thái Lan: 351 tử trận. 1358 bị thương.
Úc Đại Lợi. Khoảng 500 tử trân, bị thương.
New zeland:  55 tử trận và 212 bị thương
  1. Tất cả những con số trong phần này được ghi lại theo wikipedia)
Đây là những con số đã không cho chúng ta niềm vui, hãnh diện. Trái lại là những con số còn đời đời xé nát tim gan Việt Nam. Bởi vì, sau ngày tàn chinh chiến 30-4-1975, đảng cộng sản, bên gọi là thắng cuộc, đã không đem lại một chút niềm vui hạnh phúc nào cho dân tộc Việt Nam. Trái lại, chỉ là những bất hạnh vô cùng khủng khiếp đổ ập xuống. Đổ xuống những con đường như đại lộ kinh hoàng, đường số 7, số 10, cửa Tư Hiền, cửa Thuận An, biển Đà Nẵng, Nha Trang…. Nơi nào cũng chất cao xương trắng máu đào người Việt Nam. Và sau đó là:
– Hơn 200,000 quân cán chính của Việt Nam bị đưa vào các trại giam. Có nhiều người đã bị bắn, giết chết trong các trại giam khủng khiếp này.
– Có trên 1,000,000 ngưòi rời bỏ Việt Nam trên các chuyến tàu mong manh vượt đại dương để đi tìm tự do trong cái chết. Có hàng trăm ngàn người Việt Nam ra đi và đã bỏ mình trên đường vượt biên, vượt biển.
-Sau hai vụ cướp cạn đánh tư sản mại bản, cải tạo công thương nghiệp và đổi tiền, dân miền nam coi như là trắng tay. Nhiều người dân phải rời thành phố để đi các vùng gọi là kinh tế mới.
Tuy thế, tất cả những thiệt hại về nhân mạng và vật chất ấy dù rất lớn, nhưng không thể so sánh với thương tổn tinh thần mà người Việt Nam đã phải gánh chịu ròng rã trong 40 năm qua. Thứ nhất, nền luân lý đạo hạnh của gia đình, của xã hội đã hoàn toàn bị phá sản vì chủ trương của đảng cộng sản ép buộc tuổi thơ học tập theo gương đạo đức trộm cướp, vô đạo bất nhân, bất nghĩa của Hồ Quang (Hồ chi Minh). Trong đó có một điều đáng ghê tởm nhất là  “ phải căm thù và đoạn tuyệt cới bố mẹ” theo gương của Y. Từ tấm gương này, những tội đại ác như giết cha, giết mẹ, giết vợ, giết chồng, giết tình nhân. Cướp của giết người, phá thai đã gây nên khủng hoảng, lo sợ cho cuộc sống của xã hội Việt Nam hôm nay.
Từ tấm gương này và từ bài học “địa chủ ác ghê”, các đảng viên cộng sản tại Việt Nam tự do tung hoành bá đạo trong việc cướp bóc tài sản của dân chúng, cũng như tham ô hối lộ các công trình kiến trúc, đầu tư để nợ công đè lên đầu lên cổ người Việt Nam, làm cho nhiều thế hệ kế tiếp phải lao đao gánh chịu phần trả nợ.  Để một Sài Gòn, hòn ngọc Viễn Đông, là niềm mơ ước của các nước láng giềng như Singapor, Thái Lan, Đại Hàn, Mã Lai…từ hơn 40 năm trước, nay biến thành nơi đầy dẫy trộm cướp, đầy những đĩ, điếm Hồ chí Minh. Theo thống kê và thực tế đời thường, học sinh, trẻ em mới 13, 14 tuổi đã biết, hay bị dụ hoặc vào việc bán thân để tìm cho mình chút tiện nghi nhỏ bé là cái váy đẹp, cái điện thoại di động! Và cái sản nghiệp lớn nhất mà Hồ chí Minh đã để lại trên đất nước ấy sau 80 năm là sự bạc nhược và tinh thần nô lệ. Tất cả đều cúi đầu đi theo chỉ đạo của Tàu nhằm đưa Việt Nam vào vòng nô lệ cho Trung cộng.
Chúng bạc nhược đến nỗi, các cái loa rỉ xét thì không ngừng oang oang tuyên truyền lừa đảo nhân dân là, đoàn quân giải phóng bách chiến bách thắng Việt cộng đã đánh gục hai tên thực dân đầu xỏ thế giới là Pháp và Mỹ. Trong thực thế, một tên mang quân hàm thượng tướng, đồng thời còn là phó chủ tịch cái quôc hội của CHXHCN/VC tuyên bố rất ngon lành trước diễn đàn của cái quốc hội chuột ấy như sau: “Ta như thế này. Thì bà con thấy ta đánh với họ được không? Ai tài giỏi thì thử ra đó xem có thắng không” ( thượng tướng Huỳnh ngọc Sơn phó chủ tịch quốc hội) Thử hỏi xem, một kẻ ngu ngốc và bạc nhược như thế mà đeo quân hàm Thượng Tướng và kiêm phó chủ tịch quốc hội thì cái quốc hội ấy là cái gì? Và cái tập thể quân đội kia ra sao? Mà lạ, Y không bị lột lon và đuổi cổ về  nhà đuổi gà, chạy xe ôm kiếm ăn. Trái lại còn sum xoe áo mào ngồi trên cái vị thế ấy mà nuốt tiền thuế và sức lao động của người dân. Nếu một chính phủ, một quân đội có thực lực, có kỷ luật thì không thể không đưa loại hèn tướng này ra trước toà án quân sự vì sự hèn nhát, và làm mất sỹ khí của toàn quân trước quân thù. Tiếc rằng, nó lại là biểu tượng của quan quyền của chế độ CS thời Hồ chí Minh. Phục vụ Tàu để có chức có quyền! Và chuyện tổ cuốc xem ra là tổ… cò!
Đó là đôi nét về hành trình của cộng sản do Hồ Quang đem vào và được đoàn đảng cộng sẳn Việt cộng tài bồi và áp dụng triệt để tại Việt Nam trong hơn 80 năm qua. Tất cả là một đại họa cho tương lai của Việt Nam. Nay nhân chuyến Quy mã của Nguyễn phú Trọng,  người ta tự hỏi rằng.  Có phải Trọng đem sang Hoa Kỳ một lời thề khác và trái ngược với lời tuyên bố của Duẩn khi Y sang Trung cộng không?  Liệu Trọng có nhân chuyến đi này để hóa giải những lầm lần và dĩ lỡ coi Hoa Kỳ, coi dân tộc Việt Nam như một kẻ thù từ hơn nửa thế kỷ qua hay không?
Lúc này, người ta nói nhiều về chuyến đi của Nguyễn phú Trọng. Có người cho đó là cái may cho Việt Nam và cũng là cơ may cho đảng CS này. Bởi vì, nếu nhìn từ một góc đen tối nhất. Chẳng có một quan cán cộng nào, dẫu nhờ ảnh hưởng của Trung cộng để có quyền lực, mà lại muốn sang Tàu để tỵ nạn. Trái lại,  đều mắt trước mắt sau, kiếm phương cách sang Mỹ hay sang các nước tây phương khi gặp nạn! Hoăc giả, có những ý kiến trái chiều cho rằng: Những kẻ gian manh một đời, lúc gần chết cũng vẫn lưu manh, giả như là cố gắng làm một chuyện gì đó để tạo ra dấu ấn, để khỏi phải mang xú uế xuống tuyền đài trước khi nhắm mắt? Trọng nằm ở trường hợp nào?
Thực tế, không ai biết, tương lai sẽ có câu trả lời. Phần tôi, tôi cho rằng: Sau 80 năm sống đời gian trá, mà không thu được kết qủa, lại thấy dao kề vào cổ từ muôn phía, Nguyễn phú Trọng trước khi chết, có thể đã thay mặt toàn đảng, lãnh đạo nhà nước và tất cả các tổ chức trong guồng máy của CS mà làm một cuộc đầu hàng Công Lý? Nếu đúng, thì phải khẳng định ngay rằng: Đây không phải là một cuộc đầu hàng ô nhục, tủi hổ. Trái lại, đây là một cuộc đầu hàng có ý nghĩa, đáng qúy. Bởi vì trong cuộc dầu hàng này có niềm vui, có nụ cười và có lẽ sống.
Có niềm vui.  Cuộc đổi thay dẫu chưa bắt đầu, nhưng xem ra nó đã có nhiều dấu chỉ có niềm vui. Mặc dù, trước Nguyễn phú Trọng đã có nhiều quan cán cao cấp của nhà nước Cộng sàn tại Việt Nam quy Mã, nhưng tất cả chỉ là những viên chức thuộc phía nhà nước, không ai ở vị thề lãnh đạo đảng, là cơ chế nắm toàn bộ quyền lực và sách lược trong tay. Theo đó, những chuyến đi này mang tính hình thức trao đổi về những hoạt động thường nhật hơn là đưa ra sách lược chung cho đôi bên. Nay kẻ nắm giáo điều, nắm lãnh đạo quy Mã ( không hẳn là quy thuận) là một nước thù địch từ nủa thế kỷ qua, hẳn nhiên, nó phải có một dấu chỉ tích cực hơn. Dấu chỉ ấy là gi? Có phải là đã thể hiện qua những tuyên bố?
Dĩ nhiên, một phần nhỏ nằm trong những tuyên bố chung. Nhưng phần lớn là nằm trong những thỏa thuận được xác định mà không cần viết thành văn bản đưa ra trình diễn. Đó là những thỏa thuận chủ yếu khả dĩ làm phấn chấn những kẻ cựu thù từ nửa thế kỷ qua. Hơn thế, chính nó tạo nên những niềm vui, những nụ cười rạng rỡ chưa bao giờ có ở trên khuôn mặt cằn cỗi, bệnh hoạn, bạc nhược của Nguyễn phú Trọng.
Ai cũng biết, người ta không thể có nụ cười tươi và mãn nguyện khi trong lòng chất chứa muôn lo âu, phiền muộn. Lại càng không thể có nụ cười ấy với kẻ cựu thù. Nguyễn  phú Trọng cũng không có ngoại lệ. Hơn thế, Y không phải là mẫu người lo cái lo của dân, vui niềm vui của nhân dân. Trái lại, Y và tập đoàn do Y lãnh đạo chỉ có cái vui khi vùi dập chà đạp nhân dân. Có nụ cười khoái trá, thỏa mãn khi bắt bớ, tù đày người yêu nước, hay cướp được của cải, tài sản của tư, của công một cách nhưng không. Hoặc gỉa,  có niềm vui lớn trước nỗi bất hạnh của nhân dân. Theo đó, dù không nói ra, người ta cũng có thể hiểu được nụ cười của Trọng khi gặp Obama là nụ cười thỏa được ý nguyện của Y đã xin.  Ý nguyện ây là  gi? Liệu có phải là những chuyến tỵ nạn cho Y và cho phe nhóm của Y khi gặp bế tăc với Trung cộng? Điều này cũng có thể xảy ra. Bởi vì gặp “ kẻ thù” thì cười tươi như hoa nở, nhưng khi gặp láng giềng tốt, đồng chí tốt thì mặt lại bị ra như thằng đầy tớ phải đấm! Như thế, dù không muốn đổi thù thành bạn, cũng phải đối!
Cuộc đầu hàng có lẽ sống. Lẽ sống cho nhiều phía. Với tập đoàn Cộng sản, như tôi đã nói ở trên, từ cuộc đầu hàng này, Mỹ có thể sẽ mở sinh lộ cho nhiều quan chức Việt cộng ra đi khi cần, cũng như không đóng băng một số tài khoản nào đó mà họ đã có từ nhưng không trong lúc cầm quyền. Kế đến, cũng vì cuộc đầu hàng này mà người dân Việt Nam có cơ hội tìm lại được nguồn sống cho dân tộc bằng những cuộc sinh hoạt dân chủ và tự do trong tương lai. Từ đó một nhà Việt Nam mới sẽ được mở ra để kêu gọi mọi người cùng chung sức, ghé vai vào gánh vác. Đặc biệt, về phía Trung cộng, tôi tin rằng dù có nắm được Nguyễn phú Trọng và một số tay sai trong guồng máy hiện nay, việc Trung cộng muốn tràn sang Việt Nam như vụ Nga tràn qua Cremea là không thể thực hiện được nữa. Bởi vì, Trung cộng cũng không thể biết được Trọng đã xin gì, nói gì, hoặc thề ước gì với Mỹ để ông ta có được nét mặt hân hoan, hoàn toàn khác với vẻ mặt đưa đám, nặng lo âu khi gặp quan chức Trung cộng. Điều ấy có phải là: Từ nay, tiếng là cùng đảng nhưng không còn cùng thuyền? Trái lại sẽ đục lỗ cho thuyền cộng chìm xuống?
Bên cạnh những sự kiện ấy là việc chấm dứt đột ngột sự nghiệp chính trị của Phùng q Thanh? Một tên tham ô, một tên đầy tớ tâm đắc của Tàu vào trước ngày Trọng quy Mã, và thay đổi toàn bộ bộ chỉ huy quân đội tại Hà Nội như cho thấy, Trọng cũng không còn đủ tin và đã dứt khoát là sẽ không xin sang ty nạn tại Hoa Lục. Theo đó, chuyện thay đổi này cũng có nghĩa là lời răn đe trực tiêp cho phe nhóm thờ Tàu như Hoàng trung Hải, Uông chung Lưu, Phạm quang Nghị, Nguyễn thế Thảo, Nguyễn chí Vịnh… nên xếp cho gọn lại để một cánh cửa mới sẽ từ từ mở ra.
Như thế, nếu đây là cái khởi đầu tốt, thì cũng không phải chỉ bấy nhiêu là đủ. Trái lại, nó cần phải được tiếp tục biểu lộ cuộc khởi đầu ấy trong ý thức trách nhiệm, nghiêm chỉnh, không phải trong gian trá. Từ đó, chuyến đi này rất cần thiết phải được thể hiện một thiện chí mới để làm một cuộc đầu hàng thực sự với dân tộc Việt Nam nữa. Nghĩa là, cộng sản qua Trọng hay qua những kẻ có trách nhiệm trong tương lai phải biết giải mã lý lịch của Hồ chí Minh,  Y là ai? Và làm cuộc cầu hoà thẳng thắn, trực tiếp với người dân Việt Nam bằng cách nhận lấy trách nhiệm của hơn 80 năm qua. Tự hủy bỏ đi những đặc quyền chính trị, đặc quyền xã hội, để cùng với mọi tổ chức, đảng phaí, tôn giáo và ngươi dân Việt Nam phục vụ Tổ Quốc và dân tộc Việt Nam trong tinh thần bình đẳng. Bởi vì:
Đây mới là cái đích để mọi người nhắm tới. Đây mới là đích điểm của cuộc cầu hoà mà CS cần làm. Cần làm vì nó là công việc của những con người. Cần làm vì nó mang trọn ý nghĩa với dân tộc. Cần làm vì nó sẽ đem lại lẽ sống cho dân tộc. Cách riêng, cần làm vì chỉ có cuộc đầu hàng này mới  đảm bảo cho họ và con cháu họ có được một nơi tỵ nạn vững chắc nhất, an toàn nhất và tốt đẹp nhất để sống. Đó chính là cuộc sống làm người nhân bản ngay trên quê hương Việt Nam. Ở đó, mọi người đều được chung hưởng Tự Do, Hòa Bình, Dân Chủ, Nhân Quyền trong một đất nước Thống Nhất, Độc Lập, toàn vẹn và có kỷ cương. Ngoài ra, cộng sản không còn một lối thoát nào khác để tránh bị diệt vong,
Bảo Giang