Sunday, November 22, 2009

Ai đã đưa Dân Việt vào những khốn khổ như thế này ! ! !..

Hỡi những người lãnh đạo Đảng CSVn, ngày 30 tháng Tư Đen 1975, các ông đã cướp đi sự An bình và Tự do của Miền nam Vn mà các ông gọi là " Giải phóng" Miên Nam .
Hơn 30 năm.đất nước Thống nhất , các ông đã làm được gì cho Quê hương ???
Đất Đai của Tổ Quốc , các ông cẳt dần đem dâng hiến cho Ngoại bang để Trả nợ dần cho những chi phí Vũ khí mà các ông đã được chúng chu cấp để hoàn thành giấc mộng xâm chiếm miền Nam của các ông ,

Việc thật, người thật Cách Paris chừng 200km về phía bắc, thành phố Lens




09/12/2009

Việc thật, người thật

Cách Paris chừng 200km về phía bắc, thành phố Lens xuất hiện với những ngọn núi than coke, xa xa trông như những Kim Tự Tháp Ai Cập nhưng lại là màu đen u ám. Đó là xứ sở của những mỏ than miền bắc nước Pháp, một vùng mà tỷ số góa phụ lên rất cao, vì đàn ông ở đây quá lam lủ nên phần nhiều chết sớm. Cách đó không xa, trên con đường hướng về thánh phốCalais, có nhiều khu rừng rậm rạm ít ai lui tới. Xa hơn chút nửa là một vùng đầm lầy ở Saint Omer, nổi tiếng là một khu du lich. Vào muà hè, du khách đến để tìm sự tỉnh mịch hoang vu, có thể mướn những chiếc thuyền nhỏ chèo một mình trên những con lạch ngoằn ngoèo hai bên bờ lau sậy để tìm cái thú cô đơn. Nếu đi đông trên một chiếc tàu có người hướng dẩn thì du khách được yêu cầu giữ im lặng để thưởng thức trọn vẹn những tiếng động của đầm lầy, một sự hòa âm kỳ diệu của loài muôn thú hoang dã.

Trong cái khung cảnh đó, tôi đi tìm những người Việt Nam đang bị bỏ quên.

Dưới trời mưa lạnh của miền bắc nước Pháp mà khí hậu thường là ác nghiệt, trong khi vùng Calais đang được báo động đỏ vì bảo lụt, tôi lần mò hồi lâu cũng tới được Angres, một làng nhỏ cách Lens chừng 20 km chung quanh toàn là ruộng và rừng. Dân trong làng cũng biết đâu đó đang có những người Việt Nam đang trốn chui trốn nhủi, nhưng họ tỏ ra rất dè dặc, không phải sợ cho họ mà họ sợ cho chính những người sans papier này. Cuối cùng tôi đánh bạo vào Tòa Thị Xã để hỏi thăm. May mắn thay, tôi được đón tiếp tử tế và hướng dẫn rõ ràng. Tôi gặp một nữ nhân viên tên là Laurence Louchaert, tôi phải viết ra đây để vinh danh sự sốt sắng và đầy nhiệt tình của một công chức người Pháp. Bà vẻ cho tôi cái sơ đồ để đi đến chỗ người Việt tập trung. Thấy sơ đồ quá ngoằn ngoèo tôi hơi lúng túng, Bà Louchaert hiểu ý bảo tôi: "Thôi đươc, để tôi đưa ông đi ". Tôi chưa kịp vui mừng thì bà nói tiếp: "Ông cho tôi coi đôi giày ". Tôi ngạc nhiên nghỉ bụng chẳng lẽ bà nghi mình là shoe terrorist hay sao mà đòi khám giày? Hôm nay tôi mang đôi giày đi rừng và đưa cho bà coi, Bà vui vẻ mĩm cười:" Đường vào đó bùn lầy và trơn trợt lắm, nếu ông mang giày khác chắc đi không nổi đâu".

Tôi theo sau xe bà Louchaert khoản mươi cây số thì rẽ vào một con đường đất quanh co. Đến rìa một khu rừng thì bà cho mủi xe chỉa vào rừng rồi bóp ba tiếng còi ra hiệu. Một lát sau một số người hiện ra xa xa trong rừng và khi thấy chiếc xe quen thuộc của bà Louchaert, họ yên tâm tiến về phía chúng tôi. Bà Louchaert giao tôi cho mấy người này để họ dắt tôi vào trong rừng sâu, bà chào chúng tôi và lui xe ra về. Mấy người này cho tôi biết bà này là ân nhân, đã nuôi ăn họ và giấu họ ở đây.

Lội khoản 200 mét sình lầy trơn trợt, sợ tôi té nên hai cậu thanh niên kẹp tôi hai bên, tôi đến được khu lều của những người Việt Nam đang ẩn trốn. Gọi là lều nhưng thật ra chỉ là những tấm nylon chăng ngang chăng dọc, phần nhiều để làm mái còn hai bên bỏ trống, và ngay ở giữa lều cũng là bùn lầy vì nước hai bên bắn vào. Ở giữa căn lều lớn là có một tâm ván để làm bàn, một đống lữa đang cháy, có khoản chục người đang bu quanh để sưởi, trong đó có hai người đàn bà. Người nào cũng tỏ ra hết sức dè dặt, rụt rè và thận trọng. Tôi xin phép đươc chụp hình thì mọi người đều đồng thanh là không nên, vì vậy tôi không dám nài nỉ thêm để cho họ yên tâm. Tôi thấy họ như là những con chim bị đạn, sợ tất cả, nghi ngờ tất cả, không biết tin vào đâu, bám vào đâu. Sau khi cắt nghĩa cái lý do tôi tìm đến với họ, họ dần dần yên tâm và kể lể nhiều chuyện với tôi.

"Trại" này được lập ra từ tháng Chín 2009. để nhận những người mới và một số người đã sống trong những trại khác từ nhiều năm nay. Ờ đây chỉ có người Việt Nam thôi, hiện có khoản năm mươi người, con số này lên xuống bất thường, có khi lên đến cả trăm, có khi xuống còn vài người. Ở thời điểm này, "nhập" nhiều vì họ đã ra đi từ mùa hè ấm áp nay mới đến, "xuất " ít vì thời tiết xấu nên những vụ đột kích rời trại cũng rất khó khăn. Những người đến có khi tự tìm đến, có khi do bà Louchaert đem đến, những người đi thì lẵng lặng ra đi, không ai biết đi đâu và đi bằng cách nào. Mỗi đêm thường có chừng năm hoặc mười người đi bộ ra bến xe hàng cách đó chừng ba cây số để tìm cách đi qua Anh. Một số đi thoát, một số bị bắt lại thì bị giam trong những trại tù ( camps de détention) ở Pháp, Hòa Lan hoặc Đức, hoặc bị trả về nước. Gần đây có một phụ nữ ViệtNam bị bắt và giam ở Hòa Lan tám tháng vừa mới được thả. Chưa có người Việt Nam nào bị đưa về nước vì họ nhất quyết liều chết để được ở lại

Những người này tuy sống chung với nhau trong cùng một hoàn cảnh nhưng cũng xa lạ với nhau và hình như cũng "giữ miếng" với nhau, mặc dù họ đều có chung một tâm trạng là sợ bị bắt và sợ bị đưa về lại Việt Nam.Tất cả đều không biết nói tiếng Pháp, một vài người biết bập bẹ vài tiếng Anh nên nếu có sự giao thiệp với bên ngoài, ngay cả với bà Louchaert thì cũng rất khó khăn. Một lát sau, gần như họ tin tưởng hơn nơi tôi nên câu chuyện có phần cởi mở hơn nhưng cũng không tránh được sự dè dặt rụt rè. Chỉ có cậu trẻ nhất, 19 tuổi, ít thận trọng và bạo phổi nhất nên cho tôi biết tên là Trần Mạnh Hùng đã đi từ Đồng Hới vào khoảng tháng Ba năm nay. Một phần nửa đã có gia đình để lại bên nhà, tất cả đều đi từ Việt Nambằng đường bộ từ khoảng đầu năm đến nay. Trước mặt tôi, một "niên trưởng " 47 tuổi ( nhỏ hơn tôi gần 30 tuổi ! ) cho biết là đã đi từ Hòa Bình cách đây năm tháng. Một thanh niên có vẽ lanh lẹ nhất đã đi từ vùng Hà Nội nhưng nhất định không cho tôi biết đích xác là ở đâu. Không có người nào đi từ miền Nam hay phía nam tỉnh Quảng Bình, tức là những người bỏ nước ra đi này đã sống dưới chế độ cộng sản từ xưa đến nay, phần lớn sinh sau năm 1975..

Một đường dây ở Việt Nam buộc những người này phải trả từ 200 đến 300 đô la để đươc chở qua Tàu bằng xe lửa rồi từ đó họ phải tự túc.Họ tiếp tục di chuyển bằng đủ mọi phương tiện, sống bờ sống bụi bằng đủ mọi cách để qua Nga, xuyên qua các nước Đông Âu , Đức rồi cuối cùng đến Pháp mà họ cho là trạm áp chót, vì mục tiêu từ khi còn ở Việt Nam phải là Anh Quốc, thiêng đàng của tỵ nạn theo họ. Vì vậy số phận đã đưa đẩy họ tới vùng sình lầy Calais này, bờ biên giới với nước Anh. Cách đây mấy năm, Pháp phải đóng cửa trạm tiếp đón ở Sangatte ở ngay trên miệng hầm xuyên qua biển Manche, vì nhiều người tỵ nạn bất chấp hiểm nguy đã tìm cách qua Anh bằng đường hầm. Trong cuộc hành trình dài bằng phần nửa vòng trái đất, họ thường bám trên các xe vận tải hạng nặng xuyên qua Châu Âu. Trốn trong những thùng chứa hàng trong xe, họ phải ép xác, có khi chịu đựng không ăn uống trong nhiều ngày. Khám xét những xe vận tải đầy ắp hàng đi từ nước này qua nước khác làm cho cảnh sát biên phòng phải điên đầu vì không phải là chuyện đơn giản lúc nào cũng làm đươc. Năm ngoái, hải quan Pháp đã khám phá được mười mấy xác chết người Á Châu vì ngột ở trong xe hàng, không biết có phải là Việt Nam không. Ngày nay hải quan ở Calais và ở Douvres có một phương pháp khoa học hơn, là đo lượng khí cac-bô-nic (CO2) thải ra để biết trong xe có người hay không.

Cuộc nói chuyện đi dần tới chỗ thân mật hơn. Một bác đã lớn tuổi cho biết là đã đi từ vùng Nghệ Tỉnh. Tôi buộc miệng pha trò:" Quê hương Bác Hồ". Ông này diềm tỉnh trả lời:" Vâng, tôi sinh ra ở quê hương Bác, nhưng không muốn chết đói ở quê hương Bác." Một người trẻ hơn, đi từ Quãng Bình, cho biết là đã bỏ lại vợ và hai đứa con nhỏ ở lai vì :" Chỉ còn một miếng ruộng nhỏ, cày cấy cho lắm cũng chỉ đủ nuôi một miệng ăn thôi, tôi phải ra đi để bớt đi một miệng".Trong khi đó, mức xuất cảng gạo ở Việt Nam đứng vào hàng nhất nhì thế giới. Tôi liên tương đến truyện "Anh phải sống" của Nhất Linh, vì trong cặp vợ chồng, một người phải chết để cho người kia sống nuôi con. Tôi hỏi anh bạn đi từ Hà Nội: " Nghe nói kinh tế trong những năm sau này phá triển lăm phải không?" Anh trả lời:" Vâng, đúng thế, bây giờ Hà Nội xây nhiều nhà cao tầng, nhiều khách sạn năm sao, nhưng nhà càng cao thì khoản cách giàu nghèo càng lớn." Nhìn hai cô gái, tuy xơ xác nhưng mặt mày còn xinh xắn, tôi đùa:" Sao không ở lại Việt Nam để lấy chồng mà qua đây làm gì cho khổ thế này?" Cô trẻ, 22 tuổi, ngồi im lặng suy tư, còn cô lớn, dộ ba mươi tuổi, có vẻ có trình độ khá, chua chát:" Ở Việt Nam có thể bị bán cho Đại Hàn, cho Đài Loan. Giữa hai cái chết, chúng em lựa cái chết ít nhục nhã hơn." Tôi hối hận vì câu nói thiếu tế nhị của tôi đã gợi trong lòng cô một nổi ray rức vô hạn.

Những mẫu chuyện xót xa thực sự trên phải ghép lại thành một cuốn phim dài, thật dài, mới nói hết những gì trong tâm tư họ và những gì đã xãy ra ở Việt Nam sau hơn ba mươi năm hòa bình và thống nhất đất nước. Gặp người ViệtNam họ vừa mừng vừa sợ. Họ sợ nhất là người của Tòa Đại Sứ Việt Nam, đến điiều tra để toa rập đưa họ trở lại Việt Nam. Họ đang cho mình là kẽ thù của nhà nước, có thể bị xử lý. Họ cũng biết thường khi chính phủ Pháp trả về thì cho một ít tiền, không biết có đến tay họ không, hoặc chính phủ Pháp có thể trao đổi bằng một số tiền nào đó để bớt đi một gánh nặng xã hội. Vì vậy họ kín đáo, nghi ngờ và hình như có một thứ kỹ luật vô hình nào đó đang đè nặng lên họ.

Mùa đông tới, khắp nước Pháp đang rầm rộ bắt đầu những biện pháp cứu trợ. Từ những Resto du Coeur cho đến những Samu Social cứu trợ cấp thời, năm nào cũng đươc chuẩn bị chu đáo nhưng vẫn có nhiều thiếu sót. Lẽ tất nhiên là họ cũng lo tới cho những người Việt Nam này, không phải chỉ vì lòng nhân đạo không thôi mà còn là một nghĩa vụ cao quý của con người đối với con người.Tuy nhiên họ găp một trở ngại là những người này không dám ra khỏi rừng, vì lúc nào cũng nơm nớp sợ "ông kẹ" tòa đại sứ VC đến làm thịt . Chính vị ân nhân, bà Louchaert đã thổ lộ với tôi như vậy bằng điện thoại sau khi tôi thăm viếng. Nếu không có những ân nhân đó đem thực phẩm cứu trợ tới thì những người Việt Nam này đã biến thành những Tarzan thực sự của thế kỹ 21.

Vì trời tối, tôi phải về vì đường xa, anh em lịch sự đưa tôi ra và chào hỏi rất nhã nhặn. Trên khuôn mặt sáng sủa của mọi người thấy rõ một ý chí cương quyết vì những quyết định của họ là có suy nghỉ chứ không phải hồ đồ nông nổi. Chỉ có một điều là trong suốt cuộc gặp gở, tôi không hề thấy được một nụ cười.

Trên đường về, khi nghe radio nói tới hội nghị Việt kiều ở Hà Nội, tôi ray rứt bởi câu hỏi là những người Việt Nam đang ở trong rừng Angres này có phải là đối tượng của Nghị Quyết 36 không, hay đối tượng của nó là mấy ông Việt kiều có lắm đô la? Họ có còn được gọi là " khúc ruột ngàn dặm" không hay chỉ là một khúc ruột thừa phải cắt đi?

Paris, ngày 30 tháng Mười Một 2009

Phương-Vũ Võ Tam-Anh

***---------------------------------***

Những bước chân đổi đời gian nan .

Ngày 15.6.2009, những người quen ngậm ngùi tham dự lễ hoả táng một người Việt nhập cư trái phép, tại nhà quàn tỉnh Dunkerque. 27 tuổi, anh này chết khi rơi từ mui xe tải xuống đường, bỏ lại vợ và hai con ở Việt Nam. Chi phí an táng do người dân địa phương bảo trợ

Ba tháng sau, chuyên viên bảo vệ rừng thuộc tỉnh Dunkerque, miền bắc nước Pháp phát hiện khá đông người Việt sống bất hợp pháp trong rừng Nam Téteghem. Ở đây, các trạm trung gian nhập cư bất hợp pháp trải rộng trên xa lộ A 16 có ba khu rừng Téteghem, trên 50 bãi đậu của xe vận tải. Còn xa lộ A 26, N 24 và N 25 có trên 200 nhà kho chứa vật liệu xuất nhập cảng bỏ hoang lâu năm. Bốn xa lộ liên tỉnh kết nối vào nhau có khoảng 70 bãi đậu công cộng dành riêng cho xe vận tải cỡ lớn, đến từ các nước Âu châu và nội địa nghỉ ngơi trước khi vào hải cảng Calais. Những địa chỉ trên là môi trường tạo ra hoạt động của đường dây đưa người lao động bất hợp pháp vào Anh quốc.

Từ Paris đến khu rừng Nam Téteghem trên ba trăm cây số, chúng tôi vào rừng đi theo đường mòn gồ ghề, sình lầy. Giữa khu rừng hoang, chúng tôi bất ngờ chứng kiến đời sống cơ cực của người Việt ở đây. Sau khi đưa cho những người này xem tư liệu trên các trang báo tại Dunkerque, Calais và Téteghem nói về sự xuất hiện người Việt Nam tại khu rừng Nam Téteghem, và vụ tai nạn hồi tháng Sáu vừa qua, họ mới chịu trò chuyện với chúng tôi. Một thanh niên cho biết, anh ta được người hướng dẫn đưa đến rừng này vào cuối tháng 11.2008. Lúc đó, có ba người khác sống trong rừng. Ở chừng nửa tháng, ba người kia được đưa đi đâu không rõ. Theo anh ta, mỗi ngày có nhiều người Việt đến khu rừng này ở chung nhưng không thấy người dẫn đường quay lại. Những người Việt tự tìm bao nilông khâu lại, rồi dựng cây làm lều. Người thanh niên cho biết, anh ta đã 30 lần leo lên xe tải để trốn sang Anh, nhưng đến biên giới thì bị cảnh sát Anh bắt lại, đuổi về Pháp. Cảnh sát Pháp bắt giam một ngày để thẩm vấn, rồi thả ra. Sau mỗi lần được thả, anh ta phải đi bộ mấy chục cây số về lại khu rừng vì không biết đi đâu và cũng không biết cách nào trở lại quê nhà.


20.000 € cho một chuyến đi đổi đời bằng nước mắt, người Ta ở rừng Tây tại tỉnh Angres.

Những thành viên di cư bất hợp pháp tại rừng Téteghem làm lễ cầu siêu cho anh Nguyễn Văn Mạc bị rơi từ mui xe tải khi tìm cách trốn sang Anh quốc

Một thanh niên khác, độ tuổi hai mươi, tóc dài chấm ngang vai, thân thể gầy còm, khuôn mặt vàng da, đôi mắt thâm quầng đen, thuật lại hành trình tới Pháp qua ngả Nga và Đức. Nhóm sáu người của anh tới Nga, sau đó chỉ có anh ta được chở qua Đức rồi đến Pháp. Anh này kể lại, khi đến mé bìa rừng đầu tháng 2.2009, họ chỉ đi theo đường mòn vào rừng, sẽ gặp người Việt. Mùa đông ở rừng Téteghem khắc nghiệt. Anh này nói: “Ở Nga tuy rất lạnh nhưng được ở trong nhà, có lò gas sưởi ấm, còn ở đây là rừng chỉ có hai lều vải và nilông nhỏ, lại đúng lúc mùa đông, chân tay tê cóng, mất cảm giác. Áo len không đủ ấm, lạnh thấu xương, da thịt nứt nẻ như thể đã thấy trên cánh đồng bị hạn hán ở miền Trung quê mình”.

Một phụ nữ lớn tuổi, giọng Nghệ An, cho biết, quê ở Anh Sơn. Hành trình từ Hà Nội đi máy bay sang Nga, qua Đức và tới khu rừng này mất một tháng bảy ngày. Nghe có tổ chức giới thiệu người đi Anh làm việc, cô đã cẩn thận kiểm tra, trước khi thế chấp căn từ đường ba đời của nhà chồng lấy 7.000 Euro để đi lao động, hòng đổi đời cho hai người con trai. Cô cho biết, đơn vị tổ chức hứa hẹn rằng, tới Anh làm việc hai tháng là đủ tiền lấy lại sổ đỏ. Ở Moscow được 20 ngày, cô được cho 60 USD để tiêu, thì có người lạ mặt đến gặp, cho biết mười ngày nữa lên đường nhưng phải trả chi phí 2.000 Euro, do khoảng chi trước chỉ lo tới Nga. Tự đánh giá là gặp bọn lừa đảo, người phụ nữ này vẫn cố nuôi hy vọng gỡ gạc nên đồng ý gọi điện thoại về nhà, thế chấp sổ đỏ để được sang Đức, qua Pháp. Cô cho biết, ở khu rừng này, cô gặp 26 người đồng cảnh ngộ, tất cả đều ở miền Trung. Nghe mức chi phí 9.000 Euro của người phụ nữ đến từ Nghệ An, có nhiều người cho biết, họ mất tới 13.000 Euro. Người nữ trạc tuổi ba mươi nói: “Bố mẹ em thế chấp ba thửa ruộng cho ngân hàng đến 300 triệu đồng, tương đương 16.000 Euro”.


Túp lều, bếp lửa của 24 người Việt Nam mới xuất hiện trong rừng Téteghem

Hiện nay trong rừng Téteghem có tất cả 20 nam 4 nữ. Bếp cơm tập thể do những người Việt Nam tại tỉnh Dunkerque cứu trợ. Y tế do linh mục Phạm Xuân Đào vận động hội y sĩ Pháp viếng thăm mỗi tuần.

Những chuyến xe tử thần

Trong số 24 người Việt ở rừng Téteghem, có một thanh niên nói giọng Huế, giới thiệu mình quê ở Phường Đúc. Anh này cho biết, tháng Tám có 27 người, chết một, hai người trốn được sang Anh, còn lại 20 nam và bốn nữ. Theo anh này, ngoại trừ một chị 50 tuổi và một chị 45 tuổi, phần lớn trong độ tuổi từ 30 tới 40 và ba thanh niên mới 19, 17, 16 tuổi.

Đời sống trong rừng

Người nói giọng Huế nhìn nhận, khu rừng Téteghem có thể xem là đoạn cuối của hành trình từ Việt Nam, sang Nga, qua Đức rồi tới Pháp. 24 người Việt hầu như không đủ tiền để đi tiếp và theo họ, đường dây đưa lao động cũng khó đưa họ sang Anh trót lọt. Mấy tháng đầu, họ toàn ăn rau rừng để cầm hơi, nhịn đói khát đến mấy ngày liền. Theo lời kể của họ, gần đây mới có người tiếp tế thực phẩm và dụng cụ nấu nướng. Chàng trai quê ở Phường Đúc cho biết thêm, tuy có cơm ăn nhưng họ vẫn tiếp tục hái rau trong rừng để thay thế rau chợ. Anh này nói: “Đủ ăn, có đồ ấm là nhờ cô chú gốc gác người Sài Gòn định cư tại Dunkerque cho lương thực, tặng mền len, quần áo và giày, chính quyền địa phương cũng cho thịt gà và bạt nilông, để chúng tôi dựng lại hai túp lều lớn khang trang một chút”.

Một cô gái độ tuổi 30 cho biết, nguồn nước chính lấy từ hồ nước lớn bên cạnh (Lac de Téteghem). Cô nói: “Những tháng gần đây có quý cô chú và chính quyền cho nước lọc để uống và đồ dùng vệ sinh”. Tinh thần của 24 người này gần đây bớt bi quan và thoái chí hơn trước do được hỗ trợ về thức ăn và hội y sĩ Pháp thăm bệnh mỗi tuần nhờ sự vận động của một linh mục người Việt Nam.

Nhìn hai cái lều dựng bằng bạt nilông như vậy, khó hình dung nó có thể che chắn cho những người Việt ở đây qua được mùa đông rét giá. Vậy mà chàng trai xứ Huế lại cho rằng, chịu dãi nắng dầm mưa, rét buốt, đói khổ thế nào cũng chưa bằng những giờ phút kinh hoàng khi nhảy xe trốn sang Anh.

Ba tháng, 20 lần đối mặt tử thần

Đang trò chuyện với những đồng hương, chúng tôi thấy ba thanh niên vào khu trại. Một người trẻ ngồi bên cạnh giới thiệu: “Ba người này đi nhảy xe không được mới về lại rừng. Họ đi bộ từ sáng đến chiều trên bảy mươi cây số mới về tới đây lúc 5 giờ chiều”. Chúng tôi ngạc nhiên: “Đi từng ấy người mà không sợ bị phát hiện sao?” Một bạn, người Hải Dương giải thích, dù bãi đậu xe ở gần hay xa cũng vẫn phải đi ba hay bốn người, vì xe quá cao cho nên phải đứng lên vai chồng lên nhau, rồi mới lên mui xe được, sau đó nối tay nhau kéo lên xe, còn nữ thì đi theo nam nhưng lên xe trước. Trước khi đi, người nhảy xe phải ăn thật no vì phải nhịn đói cả ngày.

Theo lời kể của những người có kinh nghiệm, nhảy xe có nhiều cách như chui vào thùng xe, nằm trên mui hay đeo dưới lườn xe. Trong khi chui vào thùng xe có nguy cơ bị ngạt thở, ngồi trên mui tuy thoải mái nhưng hiểm nguy rình rập khi xe thắng gấp hoặc lên hay xuống dốc. Còn đeo dưới lườn xe thì đòi hỏi phải đủ sức khoẻ chịu được quãng đường 40km từ bãi tới cảng Calais. Theo họ, khi xe lên tàu thuỷ sang Anh, người nhảy xe phải tìm mọi cách để lọt qua cửa khẩu.

Chàng trai xứ Huế trong ba tháng 20 lần nhảy xe nhưng không lọt. Một phụ nữ cho biết cô có bảy lần nhảy xe lên tới cửa khẩu nhưng phải quay lại do kiểm soát quá gắt.
Cô này nói: Mỗi lúc đi nhảy xe để đổi đời cũng không khác nào đi vào cửa chết, rủi trước mắt, còn may mắn thì ít hy vọng”. Theo cô, tuy sức lực có hạn, nhưng nghĩ tới người thân ở nhà đang cần có tiền gửi về để chuộc sổ đỏ đã cầm cố hay có vốn để làm ăn là cô lại tiếp tục nhảy xe.

Qua lời kể của những người Việt ở đây, phần đông đi lao động bất hợp pháp là người miền Trung, nhiều nhất là người ở các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Trị, Huế, Nghệ Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hoá. Xuất thân miền Bắc có người Thái Bình, Hải Dương. Hai khu rừng bên kia xa lộ A16 có khoảng 300 người, còn sống trong kho hàng thì nhiều, phần lớn là dân Đông Âu chiếm cứ khu vực đó khá lâu. Luật chơi không thành văn của giới lao động nhập cư bất hợp pháp là mỗi nước chiếm cứ một phương.

Trước khi chia tay, chúng tôi hỏi lý do vì sao phải đến Anh mà không qua Đức, Bỉ hay Hà Lan. Tất cả đều nói giống nhau:“Chúng tôi đến Anh là vì nơi đó tìm kiếm việc làm dễ hơn, lương cũng cao hơn và sẽ có giấy tờ cư trú hợp pháp, cũng như nơi ăn ở đã có chủ lo hết”.

Qua tìm hiểu, công việc lương cao, chủ bao là trồng cỏ hay bán sản phẩm quốc cấm, còn nữ có khả năng phải làm trong ngành buôn hương bán phấn, dịch vụ mới phát triển tại Anh quốc do người Việt làm thầu.

© 2009 Huỳnh Tâm

© 2009 talawas blog

No comments:

Post a Comment