Phản ảnh Cam kết hợp tác toàn diện tháng 2-2011, Nguyễn Văn Thơ nói: “Đảng,
Chính phủ và nhân dân VN trước sau như một luôn xem trọng việc phát
triển quan hệ mọi mặt với Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên
hàng đầu, nhất quán và lâu dài trong chính sách đối ngoại của VN”.
Đại diện Hà Nội nêu rõ: hai nước cần (1) tăng cường các cuộc tiếp
xúc, thăm viếng cấp cao cũng như giao lưu giữa các bộ ngành và địa
phương, đặc biệt thế hệ trẻ, nhằm củng cố niềm tin chính trị và niềm tin
chiến lược; (2) tiếp tục thúc đẩy hợp tác kinh tế thương mại, sớm thành
lập hai nhóm công tác về cơ sở hạ tầng và tiền tệ; (3) tiếp tục giải
quyết vấn đề Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng
lợi ích song phương và luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp
quốc về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển
Đông (DOC); (4) tăng cường tuyên truyền về tình hữu nghị, sự hiểu biết và mối quan hệ giữa hai dân tộc, nhất là cho giới trẻ”. (Theo Thông tấn xã VN 14-01-2015).
Thiệt là trong lịch sử bang giao giữa các quốc gia và dân tộc tự cổ chí
kim, từ đông sang tây, nhất là trong mấy ngàn năm Việt sử, chưa hề có
mối quan hệ thắm thiết, sâu sắc, toàn diện như vậy!?!
Để chuẩn bị cho tinh thần này, ngày 27-12-2014, Chủ tịch Ủy ban Trung
ương MTTQ/VN - Nguyễn Thiện Nhân - và Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Hội nghị
Hiệp thương chính trị TQ - Du Chính Thanh - đã cùng khai trương "Học
viện Khổng Tử", một cơ quan tuyên truyền cho Tàu cộng. Sau đó, tại “hội
nghị của Chính phủ với địa phương triển khai Nghị quyết của Quốc hội về
nhiệm vụ kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2015” ngày
29-12, bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã khẳng định: “Tôi
thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến
người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là
ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc”.
Nhân kỷ niệm 65 năm bang giao Trung-Việt, hãy thử nhìn lại mối quan hệ
giữa hai lân bang này, mà đúng hơn là giữa hai cộng đảng. Một mối quan
hệ luôn thể hiện trong ý đồ xâm lăng, kiểu cách “cá lớn nuốt cá bé” như
từng chứng kiến trong lịch sử các quốc gia CS: Nga đối với các tiểu quốc
Liên bang Xô viết, Liên Xô đối với các nước Đông Âu, và Tàu cộng đối
với các nước châu Á cộng sản.
Ngày 13-1-1950, Bộ trưởng Ngoại giao VN, Hoàng Minh Giám, rồi ngày
18-1-1950, Bộ trưởng Ngoại giao TQ, Chu Ân Lai thay mặt chính phủ hai
nước gửi công hàm công nhận lẫn nhau và đề nghị thiết lập quan hệ, từ đó
ngày 18-1 được coi là ngày kỷ niệm chung. Nhưng cũng chính từ hôm này,
mộng xâm lăng bành trướng muôn thuở của Đại Hán “tiến lên một tầm cao
mới”. Lợi dụng sự viện trợ quân sự to lớn để giúp Hà Nội đánh Pháp rồi
đánh Mỹ, mà thực chất là đánh phe quốc gia và chế độ tư bản, lợi dụng
lòng tin tưởng mù quáng của Hồ Chí Minh và đảng Việt cộng vào tình đồng
chí vô sản (hay là niềm tín thác sáng suốt của tên Tàu đội lốt Việt Hồ
Tập Chương), lợi dụng sự ngu dốt về lịch sử chống giặc của tiền nhân và
sự coi thường khí phách kháng Tàu của dân tộc, Mao Trạch Đông đã phá vỡ
Ải Nam Quan, tiền đồn chốt chặn ngàn đời của nước Việt để không những
đem lực lượng quân sự mà cả lực lượng chính trị, kinh tế, văn hóa ngõ
hầu xâm lược Việt Nam, biến nó lại thành An Nam, và xa hơn là thành tỉnh
Âu Lạc.
Bước xâm lược đầu tiên thể hiện qua cuộc Cải cách ruộng đất tiến hành
theo đường lối Tàu và dưới sự chỉ đạo của Tàu, vừa nhằm tước đoạt đất
đai cho cộng đảng, vừa nhằm phá vỡ cơ cấu xã hội và đạo đức dân tộc, vừa
nhắm làm kiệt quệ kinh tế của Hà Nội để phải nhận sự viện trợ của Bắc
Kinh trong cuộc chiến mở xuống phía Nam chủ nghĩa CS. Tiếp đến là thể
hiện qua cuộc Trăm hoa đua nở theo tinh thần “Bách gia tranh minh” của
Trung Nam Hải, vừa nhằm mục đích cải biến trí thức thành “cục phân” (vì
mù quáng thần phục đảng) vừa nhằm mục đích tiêu diệt văn hóa Việt để văn
hóa Tàu dễ tràn vào.
Cuộc thống trị kiểu “cá lớn nuốt cá bé” tiến thêm một bước với công hàm
Phạm Văn Đồng năm 1958 nhằm tước bỏ chủ quyền nước Việt trên Hoàng Sa
lẫn Trường Sa để giao cho kẻ ngoại thù mà cả mấy ngàn năm, biên giới
phía Nam chỉ đến Hải Nam đảo. Giao cho chúng ngõ hầu được chúng viện trợ
quân trang, quân dụng và cả quân đội để tàn phá chính đất nước của Tổ
tiên (“dẫu đốt cả dãy Trường Sơn” như HCM từng nói), tàn sát chính đồng
bào cùng huyết tộc (“đánh Mỹ cho tới người Việt cuối cùng vì Trung Quốc”
như Lê Duẩn từng khẳng định). Cuộc chiến tranh tương tàn càng kéo dài
bao lâu thì cuộc xâm lăng của Trung Nam Hải càng tiến sâu chừng ấy.
Đến năm 1974, khi Tàu cộng ngang nhiên xâm chiếm Hoàng Sa của đất nước,
phá vỡ cuộc kháng cự anh dũng của VNCH, vào chính ngày kỷ niệm bang giao
Trung-Việt (18-01), thì như để đánh dấu tình hữu nghị răng môi, tình
đồng chí vô sản, Hà Nội hí hửng tuyên bố: “Thà để Hoàng Sa thuộc Trung Quốc hơn là thuộc Ngụy Sài Gòn. Bạn giữ cho ta rồi có ngày sẽ trao lại”?!?
Xâm lăng VNCH xong, Hà Nội bắt đầu bị Bắc Kinh đòi nợ chiến phí. Khốn
nạn một điều là Trung Nam Hải không đòi tiền (mà có đòi thì Ba Đình
chẳng biết lấy đâu đủ để trả) cho bằng đòi dâng đất, một điều mà vua
chúa Việt chưa từng làm trong lịch sử, thậm chí còn cấm đoán với lời răn
đe tru di tam tộc (Trần Nhân Tông). Nhưng Việt cộng thì cần gì biết
tinh thần lẫn giáo huấn đó, nên năm 1988, lúc Tàu cộng chiếm thêm Gạc Ma
thuộc Trường Sa quần đảo, chính tên bộ trưởng quốc phòng thân Tàu là Lê
Đức Anh đã cấm binh sĩ kháng cự, coi chúng như kẻ thù, thậm chí Bộ
Chính trị sau đó còn cấm loan tin (rồi sẽ nhiều lần cấm tưởng niệm),
khiến cho 64 chiến sĩ hải quân mãi mãi là những oan hồn tức tưởi vì bị
hy sinh cho thứ tình hữu nghị không ai hiểu nổi!
Sau khi mất chỗ dựa vật chất và tinh thần từ anh cả Liên Xô và khối Đông
Âu cộng sản, Hà Nội lại chạy sang Bắc Kinh mà mình từng coi là kẻ thù
kể từ cuộc chiến biên giới 1979, để khấu đầu tạ tội, tái nhận giặc làm
cha, xin nối lại mối bang giao, tình hữu nghị (1990). Thế là Tàu cộng
lợi dụng cơ hội để biến quan hệ đồng chí anh em thành quan hệ chủ tớ,
đại quốc chư hầu. Tại Hội nghị Thành Đô, các tên cáo già Giang Trạch Dân
và Lý Bằng đã ra oai trước những chú cừu non Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh,
Phạm Văn Đồng và biến ba tên này thành đám đồng lõa, tay sai cho cuộc
xâm lấn ngày càng sâu rộng, tặng cho Hà Nội vòng kim cô 16 chữ vàng ngày
càng siết chặt đầu dân Việt và bảng mật ước ghê gớm ngày càng ngoạm dần
đất Việt (xem dưới).
Và đó là Hiệp ước phân định biên giới năm 1999 nuốt trọn Ải Nam Quan,
2/3 thác Bản Giốc, gần 1000 km2 đất liền; Hiệp ước phân định lãnh hải
năm 2000 triều cống cho Tàu trên dưới 10.000 km2 vịnh Bắc bộ; Tuyên bố
Việt-Trung năm 2001 rồi 2008 (do Nông Đức Mạnh) cho Tàu cộng vào yếu
huyệt Tây Nguyên di dân, ém quân, cấy người qua vỏ bọc khai thác
bauxite. Tuyên bố tai hại này được Nguyễn Tấn Dũng biến thành hiện thực
qua Quyết định số 167 ngày 01-11-2007, cho phép các nhà thầu TQ thực
hiện dự án kéo dài từ 2007 đến 2025. Và đó là việc để cho thường dân Tàu
đi vào VN sinh sống, lập làng xã, xây phố thị từ Nam chí Bắc; để cho
thương lái Tàu đi vào VN lường gạt nông dân, phá hoại nông nghiệp khắp
nơi mọi chốn; cho chuyên gia Tàu đi vào VN trúng thầu đến 90% các công
trình xây dựng cơ bản (đường, điện); cho doanh nhân Tàu thao túng nền
kinh tế tụt hậu và giết chết các công ty xí nghiệp èo uột của dân Việt.
Trên mặt chính trị và văn hóa, Tàu cộng không ngừng khống chế Việt cộng,
lèo lái Bộ chính trị, xâm nhập Trung ương đảng để thảo ra Cam kết hợp
tác toàn diện tháng 2-2011; đẻ ra nhiều kế hoạch làm lợi kẻ thù như cho
Tàu cộng thuê mấy trăm ngàn hecta rừng quốc phòng, nhiều vị trí chiến
lược như Vũng Áng, Cửa Việt, Hải Vân, Cam Ranh; tạo ra nhiều nội ứng cho
giặc như phó thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải; tung ra những đòn tàn
bạo trấn áp các cuộc xuống đường chống Tàu, những đòn bắt bớ kết tội các
công dân lên tiếng tố Tàu; soạn ra những sách vở, tài liệu làm nhân dân
quên đi hiểm họa Tàu trong quá khứ lẫn hiện tại; và gần đây nhất là lập
ra viện Khổng Tử (đang lúc trên thế giới ngày càng xóa sổ nó) để tuyên
truyền cho chính sách Tàu.
Để kết luận về những gì được mất sau 65 năm bang giao Trung-Việt, tưởng
không có gì hơn là nhắc đến bài viết mới đây của đại tá Phạm Quế Dương, “VN sẽ là Quốc gia tự trị hay là một tỉnh của TQ?”. Trong bài này, vị sĩ quan phản tỉnh viết: “theo
tài liệu được tiết lộ bởi Thiếu tướng Hà Thành Châu, Chính ủy Tổng cục
công nghiệp Quốc phòng, tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ từ ngày 08-4-2013,
phải chăng tại cuộc họp tại Thành Đô năm 1990, Tổng Bí thư Nguyễn Văn
Linh đã khấu đầu trước Đặng Tiểu Bình: “Nhờ TQ mà Đảng CSVN mới nắm được
chính quyền, mới thắng được đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ, diệt được bọn
tư bản phản động. Công ơn TQ to lắm, bốn biển gộp lại cũng không bằng.
Do thế, nhà nước VN đề nghị TQ bỏ qua hiểu lầm, xóa bỏ các bất đồng đã
qua. Phía VN sẽ làm hết sức mình để vun bồi tình hữu nghị lâu đời vốn
sẵn có giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chủ tịch dày công xây dựng
trong quá khứ. VN sẽ tuân thủ đề nghị của TQ là cho VN được hưởng “Quy
chế tự trị trực thuộc chính quyền trung ương Bắc Kinh” như TQ từng dành
cho Nội Mông, Tây Tạng, Tân Cương, Quảng Tây”. Phải chăng có kế
hoạch sáp nhập VN vào TQ dự kiến qua ba giai đoạn: Giai đoạn 1:
15-7-2020: Quốc gia tự trị; Giai đoạn 2: 05-7-2040: Quốc gia thuộc trị;
Giai đoạn 3: 05-7-2060: Tỉnh Âu Lạc.
Phải chăng đó sẽ là thành quả bang giao Trung-Việt được làm nên bởi
những kẻ cũng da vàng máu đỏ, cũng con Hồng cháu Lạc, nhưng chưa bao giờ
có ý thức quốc gia, tự hào dân tộc và tình nghĩa đồng bào? Hỡi quốc dân
đất Việt, còn đợi gì nữa?
BBT
Xã luận bán nguyệt san Tự do Ngôn luận số 211 (15-01-2015)
No comments:
Post a Comment