Hoàng
Sa (Paracel Archipelago) là một quần đảo gồm khoảng trên 100 đảo nhỏ,
giữa kinh tuyến 111 và 113 độ Đông, và khoảng vĩ tuyến 15 đến 17 độ Bắc,
tức phía nam vĩ tuyến 17 độ Bắc, trong biển Biển Đông, ngoài khơi Việt
Nam Cộng Hòa. Quần đảo nầy gồm hai nhóm: nhóm phía tây là Nguyệt Thiềm
(hay Trăng Khuyết, tiếng Anh là Crescent group) và nhóm phía đông bắc là
An Vĩnh (Amphitrite group).
Hoàng Sa là của Việt Nam
Trong
lịch sử, nhiều tài liệu chứng tỏ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
trên Biển Đông thuộc chủ quyền Việt Nam. Có thể trước hoặc trong thời
Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần (cầm quyền ở miền nam song Gianh từ
1659-1687), chúa Nguyễn thành lập đội Hoàng Sa, nhiệm vụ ra vào hàng năm
theo mùa gió, nhằm kiểm soát và khai thác tài nguyên ở quần đảo nầy.
Từ
thời các vua nhà Nguyễn, hàng năm, triều đình gởi thuyền ra Hoàng Sa
thăm dò rồi trở về. Năm 1835 vua Minh Mạng (trị vì 1820-1820) sai thuyền
chở gạch đá, đến xây đền trên đảo Bàn Than (thuộc Hoàng Sa), dựng bia
để ghi dấu, gieo hạt trồng cây. Khi đào móng đắp nền, xây đền, các lính
thợ đã đào được 2,000 cân đồng và gang sắt. (Quốc sử quán nhà Nguyễn,
Đại Nam nhất thống chí, quyển 8, tỉnh Quảng Ngãi, Phạm Trọng Điềm dịch,
Huế: Nxb. Thuận Hóa, tập 2, 1997, tr. 322-323.)
Từ
đó, theo mùa gió hàng năm triều đình nhà Nguyễn gởi thủy binh ra Hoàng
Sa vào cuối tháng giêng (âm lịch) để thăm dò, bảo vệ, rồi trở về sáu
tháng sau. Dưới thời Pháp thuộc, Pháp bắt đầu đặt trạm quan thuế và tuần
tra quần đảo từ năm 1920. Sau đó Pháp lập trạm khí tượng năm 1933. Trạm
nầy thuộc quyền quản lý của sở Khí tượng ở Đà Nẵng. Từ năm 1938, Pháp
xây bia, dựng hải đăng và lập đội biên phòng bảo vệ Hoàng Sa. Ngày
30-3-1938, vua Bảo Đại (trị vì 1926-1945) ban đạo dụ tách Hoàng Sa khỏi
liên tỉnh Nam Ngãi và nhập vào tỉnh Thừa Thiên.
Trước
khi thế chiến thứ hai bùng nổ, có thể do nhu cầu quân sự, chuẩn bị tiến
xuống Đông Nam Á, Nhật đưa quân chiếm quần đảo Trường Sa (Spratlys)
ngày 31-3-1939, và sau đó vài ngày chiếm tiếp quần đảo Hoàng Sa (Paracel
Archipelago). (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975 (tập A:
1939-1946), Houston: Nxb. Văn Hóa, 1996, tr. 16.)
Khi
Nhật đầu hàng năm 1945, Pháp tái kiểm soát các quần đảo trên Biển Đông.
Ngày 14-10-1950, Pháp chuyển giao Hoàng Sa cho Quốc Gia Việt Nam
(QGVN). Thủ hiến Trung Việt là Phan Văn Giáo ra tận đảo Hoàng Sa làm lễ
tiếp nhận. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu 1939-1975 (tập B: 1947-1954),
Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 196.)
Lợi
dụng tình hình lúc Nhật Bản đầu hàng năm 1945, Trung Hoa Dân Quốc gởi
quân chiếm một số đảo trong quần đảo Hoàng Sa năm 1946, nhưng chính phủ
Pháp phản đối. Năm 1949, lên cầm quyền ở Trung Hoa, Cộng Hòa Nhân Dân
Trung Hoa (CHNDTH) tức Trung Cộng tiếp tục đòi hỏi:
“Chính
quyền Quốc Dân Đảng đã nghiên cứu và xác định tên tiếng Trung Hoa và
tiếng Anh cho toàn bộ các đảo, vỉa đá Trung Hoa trên biển phía nam Trung
Hoa vào tháng 12/1934 và tập hợp chúng lại thành bốn quần đảo lần đầu
tiên. Một bản đồ ấn hành vào tháng 4-1935 cho thấy chi tiết các đảo của
Trung Hoa trên biển phía nam Trung Hoa, đánh dấu mũi cực nam của biển
phía nam Trung Hoa là Zengmu’ansha ở vĩ độ 4 độ Bắc chí tuyến. Một bản
đồ khác, ấn hành tháng 2/1948 cho thấy, sự phân chia hành chính của
Trung Hoa Dân Quốc. Bản đồ còn cho thấy đường nối dài 11 điểm bao quanh
bốn quần đảo với mũi cực nam ở Zengmu’ansha. Đây là bản đồ đầu tiên đánh
dấu biên giới hình chữ U của Trung Hoa trên biển phía nam Trung Hoa.
Các bản đồ ấn hành sau khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thành lập [1949]
đã giữ lại đường nối dài 11 điểm, và cho tới năm 1953, thì hai điểm đánh
dấu Vịnh Bắc Việt bị xóa bỏ. Sau đó, tất cả bản đồ Trung Hoa đều theo
đường nối dài chín điểm, hình chữ U.” (Internet: China Daily ngày 22-7-2011, trang 9.)
Trong
khi đó, sau thất bại năm 1945, tại Hội nghị hòa bình San Francisco (Hoa
Kỳ) ngày 6-9-1951, Nhật Bản tuyên bố từ bỏ chủ quyền trên hai quần đảo
Hoàng Sa và Trường Sa.
Đại
diện Liên Xô là Andrei Gromyko cho rằng quần đảo Hoàng Sa (Paracel
Archipelago) và các đảo khác về phía nam, được xem là lãnh thổ của
CHNDTH, và yêu cầu hội nghị bổ sung vào hiệp định là các hải đảo đó
thuộc chủ quyền của CHNDTH. Tuy nhiên, Gromyko không đưa ra được bằng
chứng cụ thể nào chứng minh chủ quyền của CHNDTH đối với các đảo trên,
nên hội nghị đã bác bỏ yêu cầu của Liên Xô.
Thủ
tướng Quốc Gia Việt Nam là Trần Văn Hữu xác nhận tại diễn đàn hội nghị
nầy rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Không một nước nào lên tiếng phản đối. (Vào Google, chữ khóa “Hội nghị
hòa bình San Francisco năm 1951”.)
Qua
thời Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), tổng thống Ngô Đình Diệm ban hành “Luật
và sắc lệnh” số 174 NV ngày 13-7-1961 đặt tên quần đảo Hoàng Sa là xã
Định Hải, trực thuộc quận Hòa Vang, tỉnh Quảng Nam, do một phái viên
hành chánh đứng đầu. (Mời xem văn bản đính kèm trang sau.)
Quyết
định sáp nhập Hoàng Sa vào tỉnh Quảng Nam có thể dựa vào vĩ độ của quần
đảo Hoàng Sa tương đương với vĩ độ của tỉnh Quảng Nam, và cũng có thể
trạm khí tượng trên Hoàng Sa trực thuộc Sở Khí tượng Đà Nẵng (trụ sở gần
phi trường).
Trong
khi đó từ Cù Lao Ré hay đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) ra tới đảo Tri Tôn (cực
tây của Hoàng Sa) là 123 hải lý. Ngày 21-10-1969, thủ tướng Trần Thiện
Khiêm ký nghị định số 709-BNV/HĐCP sáp nhập xã Định Hải vào xã Hòa Long,
cũng thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam.
CỘNG SẢN VIỆT NAM TÁN THÀNH
BẢN TUYÊN BỐ NGÀY 4-9-1958 CỦA CHNDTH
Từ
24-2 đến 29-4-1958, Liên Hiệp Quốc (LHQ) tổ chức hội nghị tại Gènève để
bàn về luật biển. Các nước hội viên LHQ tham dự hội nghị ký kết bốn quy
ước về luật biển (United Nations Convention on Law of the Sea, viết tắt
là UNCLOS): 1) Quy ước về hải phận và vùng tiếp giáp. 2) Quy ước về
thềm lục địa. 3) Quy ước về hải phận quốc tế. 4) Quy ước về nghề đánh cá
và bảo tồn tài nguyên sống ở hải phận quốc tế.
Riêng
quy ước về hải phận và vùng tiếp giáp, các nước tham dự hội nghị có lập
trường khác nhau về chiều rộng hải phận, và không có lập trường nào hội
đủ túc số 2/3 để thành luật.
Khi
diễn ra hội nghị Genève về luật biển trên đây, CHNDTH hay Trung Cộng
chưa gia nhập LHQ, nên chưa được tham dự hội nghị nầy. Ngày 4-9-1958,
CHNDTH đưa ra tuyên bố về lãnh hải, gồm có 4 điều theo đó điều 1 và điều
4 mặc nhiên khẳng định rằng các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về
lãnh thổ CHNDTH và gọi theo tên Trung Hoa là Xisha [Tây Sa tức Hoàng
Sa] và Nansha [Nam Sa tức Trường Sa]. Điều 1 và điều 4 bản tuyên bố được
dịch như sau:
Điều (1) “Bề
rộng lãnh hải của nước Cộng Hòa Nhân dân Trung Quốc là 12 hải lý. Điều
lệ nầy áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Quốc, bao
gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Đài
Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các
đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa [Xisha
tức Hoàng Sa], quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa [Nansha tức Trường
Sa], và các đảo khác thuộc Trung Quốc”. Điều (4) “Điều (2) và (3) bên
trên cũng áp dụng cho Đài Loan và các đảo phụ cận, quần đảo Penghu, quần
đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và
các đảo khác thuộc Trung Quốc...” (Bản dịch của Trung Tâm Dữ Kiện.
(trích Internet). Bản Anh ngữ, xin vào Google, tìm “Declaration of the
Government of the Peoples’s Republic of the China on the Territorial
Sea”.
Cộng
Hòa NDTH tự cho rằng Hoàng Sa và Trường Sa thuộc CHNDTH, chỉ dựa vào
bản đồ do chính quyền Tưởng Giới Thạch nghiên cứu và vẽ năm 1934. (Đã
viết ở trên.)
Chắc
chắn, bản đồ nầy cũng có trong hồ sơ của Andrei Gromyko tại hội nghị
San Francisco năm 1951, nhưng hồ sơ của Gromyko đã bị hội nghị bác bỏ vì
thiếu bằng chứng lịch sử.
Ngoài
ra, tuy từ đảo Hải Nam (CHNDTH) xuống tới Hoàng Sa là 140 hải lý, nhưng
CHNDTH nói rằng từ đảo Hải Nam tới bãi đá ngầm (North Reef) của Hoàng
Sa là 112 hải lý để chứng minh rằng quần đảo nầy gần CHNDTH hơn Việt
Nam. Tuy nhiên, bãi đá ngầm dưới mặt nước biển không phải là đảo, nên lý
luận trên không được quốc tế chấp nhận. (Vũ Hữu San, Địa lý Biển Đông,
Westminster: 2007, tt. 150-151.)
Cộng
Hòa NDTH đưa ra bản tuyên bố ngày 4-9-1958 chỉ nhằm khẳng định chủ
trương về lãnh hải của CHNDTH mà không gởi riêng cho nước nào trên thế
giới. Thế mà chỉ 10 ngày sau, Phạm Văn Đồng, thủ tướng Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa (VNDCCH) tức Bắc Việt Nam (BVN), với sự đồng ý của chủ tịch BVN
là Hồ Chí Minh và bộ Chính trị đảng Lao Động, một tổ chức không có
trong hiến pháp, nhưng thực tế cầm quyển tối cao ở BVN, vội vàng ký công
hàm ngày 14-9-1958, tán thành quyết định về lãnh hải của CHNDTH.
Phần chính công hàm Phạm Văn Đồng như sau: “Chính
phủ nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố
ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa,
quyết định về hải phận của Trung Quốc.Chính phủ nước Việt Nam Dân Chủ
Cộng Hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước
có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc
trong mọi quan hệ với nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa trên mặt bể.” (Xin xem văn bản dưới đây.)
Tán
thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của CHNDTH có nghĩa là đảng Lao Động
(CS) tán thành điều 1 và điều 4 của bản tuyên bố, theo đó CHNDTH tự xác
nhận Hoàng Sa và Trường Sa là của CHNDTH, ngược lại với sử sách Việt Nam
về chủ quyền của nước ta trên hai quần đảo nầy.
Đảng
Lao Động (tức đảng CS) tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của CHNDTH
nhằm trả ơn CHNDTH đã viện trợ cho VNDCCH từ năm 1950 đến 1954, và còn
nhằm mục đích khác là chuẩn bị xin Trung Cộng tiếp tục viện trợ quân sự
để tấn công Nam Việt Nam (NVN). Cộng Hòa NDTH xem quốc thư của Phạm Văn
Đồng là bằng chứng của nhà nước VNDCCH thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa
là của CHNDTH.
Tháng
10-1959, nghĩa là một năm sau công hàm, Phạm Văn Đồng qua Bắc Kinh xin
CHNDTH viện trợ để BVN tấn công NVN. Tháng 11-1959, CHNDTH gởi một phái
đoàn sang BVN trong hai tháng, nghiên cứu tất cả những nhu cầu cần thiết
của BVN. Tháng 5-1960, lãnh đạo BVN và CHNDTH hội họp liên tiếp nhiều
lần ở Hà Nội và Bắc Kinh để thảo luận chiến lược tấn công NVN. (Qiang
Zhai, China & the Vietnam Wars, 1950-1975, The University of
Carolina Press, 2000, tt. 82-83.)
Được
CHNDTH đồng ý hậu thuẫn, tại đại hội III ở Hà Nội từ 5-9 đến 10-9-1960,
đảng Lao Động đưa ra hai mục tiêu là xây dựng BVN tiến lên xã hội chủ
nghĩa và giải phóng NVN bằng võ lực, nghĩa là động binh tấn công VNCH.
Tiềm năng Hoàng Sa
Cộng
Hòa NDTH tấn công Hoàng Sa ngày 19-1-1974 có thể vì bốn lẽ sau đây: 1)
Cộng Hòa NDTH muốn làm chủ vị trí chiến lược Hoàng Sa trên Biển Đông để
tiến xuống Đông Nam Á. 2) Lúc đó, CHNDTH gặp ba yếu tố thuận lợi: a)
VNDCCH hay BVN đã công nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc CHNDTH từ năm
1958. b) Sau hiệp định Paris (27-01-1973), Hoa Kỳ rút hết quân khỏi NVN,
cắt giảm viện trợ cho NVN, và không trở lui can thiệp vào Việt Nam. c)
VNCH hay NVN một mình bận rộn chống đỡ những cuộc tấn công mạnh mẽ của
VNDCCH hay BVN, đang được cả khồi CS hậu thuẫn tối đa. 3) Lúc đó, Liên
Xô càng ngày càng tăng cường viện trợ cho BVN, nên BVN có thể sẽ đổi ý,
giao Hoàng Sa và Trường Sa cho Liên Xô để trả ơn, nếu BVN thành công
trong cuộc chiến xâm lăng NVN. Vì vậy CHNDTH cần ra tay trước. 4) CHNDTH
muốn tìm kiếm khí đốt và dầu hỏa dưới lòng Biển Đông trong khu vực nầy,
mà CHNDTH rất cần trong việc phát triển kỹ nghệ của CHNDTH.
Nguyên
vào đầu thập niên 70, chính phủ VNCH (NVN) bắt đầu nghiên cứu vấn đề
dầu hỏa và khí đốt dưới thềm lục địa trong Biển Đông. Ngày 1-12-1970,
chính phủ VNCH ban hành luật số 11/70 về việc tìm kiếm, khai thác dầu
hỏa cùng những điều kiện về thuế khóa, lệ phí và hối đoái liên hệ. (Công
báo VNCH 1970, tr. 8573). Sau đó, chính phủ ban hành sắc lệnh số
3-SL/KT ngày 7-1-1971 thiết lập tại Bộ Kinh tế một ủy ban mệnh danh là
“Ủy ban quốc gia dầu hỏa.10b (Công báo VNCH 1971, tr. 642). Ủy ban quốc
gia dầu hỏa phụ trách việc nghiên cứu vấn đề thềm lục địa (nghị định số
571-NĐ/KT ngày 2-6-1971).(Công báo VNCH 1971, tr. 3848). Cuối cùng nghị
định số 249-BKT/VP/UBQGDH/NĐ ngày 9-6-1971 công bố ý định cấp quyền đặc
nhượng tìm kiếm và khai thác dầu hỏa. (Công báo VNCH 1971, tr. 3857.)
Năm
1972, công ty Geological Service Inc (GSI) nghiên cứu khu vực trung và
nam Hoàng Sa. Tháng 6-1973, hai tổ hợp Anh Pháp là Roberto Research
International Limited và Bureau d'Études Insdustrielles et de
Coopération de l'Institut Français du Pétrole (BEICPIP) phối hợp làm báo
cáo “Địa chất và Khai thác hydrocarbon ở ngoài khơi Nam Việt Nam”.
Lúc
đó, VNCH bắt đầu tổ chức cho các công ty ngoại quốc đấu thầu. Những
công ty trúng thầu đã khoan nhiều giếng, và vào tháng 10-1973 cho biết
tại thềm lục địa Việt Nam, tiềm năng dầu hỏa là có thật. (Trịnh Quốc
Thiên, Những biến cố mất lãnh thổ - lãnh hải Việt Nam từ năm 939 đến
2002, VA: Nam Quan Ấn Quán, 2002, tt. 163-167.)
Việc
phát hiện tiềm năng dầu hỏa dưới đáy biển Biển Đông làm cho vấn đề
Hoàng Sa trở nên căng thẳng vì tranh chấp quyền lợi kinh tế.
Kết luận
Quần
đảo Hoàng Sa vốn thuộc Việt Nam từ lâu trong lịch sử, nhưng CHNDTH muốn
bành trướng, tìm đường xuống Đông Nam Á và tìm kiếm tài nguyên thiên
nhiên dưới lòng Biển Đông, nên nhân cơ hội Liên Hiệp Quốc đưa ra luật
biển tại hội nghị Genève từ 24-2 đến 29-4-1958, CHNDTH liền tự nhận
Hoàng Sa và Trường Sa là của CHNDTH trong tuyên bố ngày 4-9-1958. Thế mà
BVN do đảng Lao Động (đảng CS) cai trị, lại tán thành bản tuyên bố của
CHNDTH, tức mặc nhiên thừa nhận hai quần đảo nầy là của CHNDTH.
Như thế, CS
Việt Nam không thể tránh khỏi tội phản quốc là tội bị lên án nặng nề
nhứt trong lịch sử cổ kim đông tây, và CSVN còn tiếp tay cho CHNDTH mở
đường xuống Đông Nam Á. (Nguồn: Trích từ sách Chiến tranh 1954-1975, sẽ xuất bản.)
(Toronto, 18-01-2021)



No comments:
Post a Comment