Đó
là những đặc thù riêng mà chỉ có đất nước Việt Nam có nên các giá trị
phổ quát về nhân quyền, quyền tự do dân chủ chưa có thể đưa áp dụng vào
Việt Nam một cách máy móc như các nước khác.
Quyền lợi: Đặc thù của Việt Nam
Những đặc thù riêng đó là gì? Đồng lương của người lao động Việt Nam
thấp, hiện tại lương tối thiểu phải trả cho công nhân được quy định là
830 ngàn đồng/tháng (tương đương khoảng 37 dola). Tính ra, mỗi giờ lao
động của người công nhân Việt Nam được trả tối thiểu là 0.2 dola (20
cent).
Với
đồng lương đó, người công nhân không ăn, không mặc, cũng chưa đủ mua
hai bình gas để đun nước sôi uống trừ bữa. Hoặc mua được hơn 6kg thịt
lợn là hết. Trong khi đó, để tồn tại được, họ cần có ăn, mặc, ở và
những nhu cầu cá nhân, tập thể khác.
Vì
sao nhà nước cứ giữ mức lương tối thiểu như vậy, thì chỉ có nhà nước
biết. Tuy nhiên, người dân biết rất rõ rằng: Người công nhân, đi làm
thuê cho các doanh nghiệp nước ngoài, họ căn cứ vào mức lương tối thiểu
đó để bắt đầu trả lương. Có thể nói không bao giờ họ vi phạm luật lệ
về chế độ lương khi trả tối thiểu 830.000/tháng/người. Phần còn lại,
hoàn toàn phụ thuộc vào yêu cầu công việc mà ông chủ quy định cho các
công nhân đang bán sức lao động của mình như thế nào. Chính đây là điều
kiện cho các ông chủ có uy quyền tối thượng với công nhân hoặc nhiều
hành động dã man, man rợ như đã thấy.
Đó là đặc thù riêng của Việt Nam?
Mỗi năm, nhà nước cứ lần lượt tăng lương tối thiểu theo từng mức nhỏ
giọt. Nhưng đúng như gần trăm năm trước Tú Mỡ đã nói:
Quan được tăng lương dân cũng tăng
Tăng sưu tăng thuế đến nhăn răng[i]
Tăng sưu tăng thuế đến nhăn răng[i]
Người
dân Việt Nam bất kể công nhân hay cán bộ công chức (Những người không
có mối để kiếm chác trục lợi, hối lộ hoặc tham nhũng) luôn sợ những kỳ
tăng lương.
Nghịch lý ư? Không, chỉ vì lương chưa kịp tăng, thì giá đã
tăng vọt phi mã. Tăng lương luôn đồng nghĩa với việc tăng giá và các
sinh hoạt trong đời sống xã hội, do vậy đồng lương thực tế đã còi cọc
lại đi xuống thảm hại.
Mà
khi giá đã tăng, thì chẳng bao giờ ngừng lại hoặc quay về vị trí cũ.
Chỉ tiếc rằng, cái đỉnh giá cả tăng lên không biết khi nào dừng lại và
nó không phải là đỉnh vinh quang, hay trí tuệ nhân loại để tự hào. Trái
lại, đó là nỗi lo lắng thường trực từ bao chục năm nay của mỗi người
dân sống trong Thiên đường Xã hội chủ nghĩa tươi đẹp của chúng ta.
Việc
tăng giá là chủ đề hoàn toàn không mới, nó có cách đây cả nửa thế kỷ
có thừa, giá cứ tăng, đồng tiền cứ thế xuống giá. Cuộc sống người dân
Việt Nam mấy chục năm nay cứ vật lộn với Giá – Lương – Tiền vẫn chưa hề
dứt.
Còn nhớ những năm 80 của thế kỷ trước, vùng Nghệ Tĩnh đã có những
câu đối chua chát như sau:
Năm Tám mươi, gạo cũng tám mươi, người Xứ Nghệ mắt vàng như nghệ.
Đảng Năm mươi, thịt lên năm mươi, dân Làng Đỏ tim bầm máu đỏ[ii].
Đảng Năm mươi, thịt lên năm mươi, dân Làng Đỏ tim bầm máu đỏ[ii].
Ngày nay, khi đảng đã 82, thịt lên 120 thì chắc chẳng ai còn thèm ngồi đặt câu đối nữa.
Đấy
là đời sống người ăn lương. Còn người nông dân một nắng hai sương thì
chẳng cần nói đến nhiều, họ nhìn đời sống công nhân, công chức cứ như
dưới vực nhìn lên trời xanh. Hàng đoàn, hàng lũ con em họ cứ thế nối
đuôi nhau vào các nhà máy, công xưởng của các nhà tư bản nước ngoài đầu
tư tại Việt Nam để được bóc lột, để được nhận những đồng lương và cuộc
sống nói trên. Phần còn lại, cắm mặt xuống đất, bán lưng cho trời không
đủ đút miệng, làm được chút nông sản thì nay lụt, mai bão. Thậm chí có
làm ra được chút sản phẩm thì hoặc bị chèn giá, hoặc có bán đi không
đủ chi phí thu hoạch đi bán nên phải để thối ngoài đồng…
Chỉ chừng đó cũng đủ nói lên đời sống kinh tế của người dân Việt Nam từ
người công nhân, công chức ăn lương đến người nông dân.
Đó
là đặc thù riêng của đời sống kinh tế Việt Nam. Và về quyền lợi, nhiều
người dân phải chịu cảnh “đặc thù riêng” đó cứ triền miên đời này sang
đời khác. Khi người dân đang lo kiếm miếng ăn, thì ít ai nghĩ đến
những giá trị tinh thần và nhân bản.
Chính
” đặc thù riêng đó” cũng là lý do để nhà nước dùng giải thích cho đời
sống chính trị của Việt Nam khi có ai đòi hỏi về các quyền lợi của
người dân.
Nghĩa vụ: Mặt bằng thế giới
Tất
nhiên, với mức lương tối thiểu như vậy nhưng một số cán bộ nhà nước
lại có thể mua xe xịn, mua nhà, mua đất và nhiều thứ khác. Tiền ở đâu
ra, làm cách nào thì chắc chỉ có cán bộ biết mà thôi. Con số những
người này, so với số dân, chỉ là con số nhỏ, nhưng tài sản xã hội thì họ
chiếm tỷ lệ lại rất lớn.
Oái
oăm thay, chính những người trong số này là những người đưa ra các
chính sách xã hội, quản lý xã hội và nhân dân. Có lẽ họ luôn nghĩ rằng
mọi người dân đều như họ, đều có trong nhà tiền rừng, bạc biển và tài
sản tự đâu chui đến, nên họ đưa ra những chính sách rất… “đặc thù” và
tư duy của họ cũng hết sức đặc thù như vậy.
Mỗi
lần muốn lần những đồng cắc của người dân khốn khổ, những người hoạch
định chính sách rất vô tư và thoải mái trích dẫn, so sánh mạng miệng
với mặt bằng giá cả thị trường thế giới.
Xăng
dầu tăng ư? Không đáng kể, không ảnh hưởng nhiều đến cuộc sống nhân
dân vì chỉ có tăng mươi phần trăm. Giá này cũng chỉ tương đương với giá
trên thị trường Mỹ hoặc các nước khác như châu Âu hoặc trong khu vực,
thậm chí còn rẻ hơn.
Điện tăng ư, không đáng kể vì chỉ tăng có mấy phần trăm, so với giá thế giới vẫn còn thấp hơn giá trong khu vực. Thực tế là ông điện lực đã tính ăn gian khi giá điện cao nhất khu vực.
Giá xe ô tô đắt nhất thế giới ư? Cao gấp 3 lần Châu Âu ư?
Thì cũng chỉ gấp ba lần giá xe ở Mỹ là cùng và đó là do “đặc thù Việt Nam”.
Viện phí tăng ư? Chỉ gấp 6 lần là cùng, còn bảo hiểm y tế không tốt ư? Ít tiền sao tốt được?
Thậm chí, hài hước hơn là ông nghị Đỗ Văn Đương còn tuyên bố rất to giữa Quốc hội như sau: “Tôi
đi các nước thấy giá tiêu dùng đắt đỏ, một đĩa rau muống xào ở Thượng
Hải tới 200 nghìn đồng, nhưng ở Việt Nam chỉ mấy chục nghìn. Trong nước
tôi đi chợ rau muống ở đô thị có thể 5.000 đồng/mớ, đi xuống vùng nông
thôn chỉ 2.000, xuống nữa có khi rẻ hơn nên không thể nói ta lạm phát
cao nhất khu vực”. Đúng là “đặc thù riêng có” của ông nghị Việt
Nam. Ông ta không cần rằng, khi người ta ăn những đĩa rau muống 200.000
đồng Việt Nam, thì thu nhập của họ hàng tháng con số tính ra là cả ngàn
đô la.
Ông
ta đã không hiểu rằng, những người được ăn đĩa rau muống 200.000 đồng
đó, chỉ là những ông Nghị được đi nước ngoài bằng tiền ngân sách, có
trong nhà rủng rỉnh tiền bạc mà không phải lội ruộng để căm cụi làm ăn
cuối mùa tính ra là… lỗ.
Thế
rồi các loại thuế, các loại phí cứ tha hồ khép theo giá của “mặt bằng
thế giới và khu vực” mà những người hoạch định chính sách đã quên đi
người dân Việt Nam đang được hưởng quyền lợi và có cuộc sống rất “đặc
thù Việt Nam”.
Không
chỉ có thế, có lẽ chỉ có ở Việt Nam, phí chồng lên phí, thuế chồng lên
thuế… tất cả vào giá thành và người dân cứ thế hưởng trọn giá trị của
“Mặt bằng thế giới”.
Người
ta không lạ gì với những cách giải thích rất “đặc thù Việt Nam” nói
trên của quan chức. Chỉ vì đến khi khát những đồng tiền đổ vào những
cái túi tham nhũng vô đáy ở các dự án, nuôi bộ máy cồng kềnh không chỉ
là song trùng mà là 3 trong 1 gồm (Đảng – chính – Công thanh, đoàn
thể…) này, bù đắp vào hàng đống những lãng phí, thua lỗ ở “các quả đấm
thép” của các doanh nghiệp nhà nước như Vinashin thì buộc phải lần đến
những đồng cắc cuối cùng trong túi người dân. Mặc cho người dân rên xiết
bởi những quả đấm như trời giáng vào mặt:
Còn manh khố rách càng thêm rách
Đời sống lầm than ai thấu chăng[iii]
Đời sống lầm than ai thấu chăng[iii]
Và cái đặc thù kia cứ còn tồn tại, thì người dân Việt Nam còn nhận được
nhiều lời giải thích tương tự cho đến lúc xuống mồ.
Thực
chất của những điều nó trên đây, nó chỉ vì Việt Nam đang được hưởng
một “Đặc thù riêng” là có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, người tổ chức
và lãnh đạo mọi thắng lợi của Cách mạng Việt Nam” đưa dân tộc đi lên
Chủ nghĩa Xã hội, là con đường đã được “đảng và bác hồ lựa chọn”.
[i] Quan được tăng lương - Thơ Tú Mỡ
[ii] Làng Đỏ: Tên một địa danh ở Hưng Nguyên, nơi có phong trào Xô Viết – Nghệ Tĩnh
[iii] Quan được tăng lương – Thơ Tú Mỡ
Ngày 23/3/2012- J.B Nguyễn Hữu Vinh
No comments:
Post a Comment